HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Quản lý Đất ngập nước Việt Nam

Quan điểm của công ước Ramsar về quản lý bền vững ĐNN

Triết lý cốt lõi của công ước Ramsar là khái niệm “sử dụng không khéo”. Sử dụng khôn khéo ĐNN được định nghĩa là “duy trì đặc điểm sinh thái của ĐNN qua thực hiện cách tiếp cận HST trong khuôn khổ của phát triển bền vững”. Do đó tâm điểm của “Sử dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN và tài nguyên của chúng vì lợi ích của con người.(Wise use concept of Ramsar Convention 1971).


Vì vậy khi bàn về quản lý ĐNN cũng phải qua xem xét quan điểm này để luận bàn về những tồn tại trong quản lý ĐNN của chúng ta.

Quản lý đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn do những bất cập về quy chế, cơ chế và năng lực quản lý và nhất là về nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vai trò, các dịch vụ hệ sinh thái (HST) ĐNN và nhất là quan điểm về “đánh đổi” các dịch vụ HST đất ngập nước trong phát triển kinh tế-xã hội. Tiếp đây là một số minh họa:

Tại lễ kỷ niệm Ngày đất Ngập nước 2/2 tổ chức ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên&Môi trường, TS Phạm Khôi Nguyên, cho biết, trong quá trình khai thác và sử dụng đất ngập nước, sinh vật, đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên đất ngập nước bị suy giảm nghiêm trọng,  các vấn đề bức xúc về môi trường vẫn không giảm: “Môi trường sống và di cư của nhiều loài bị  đe doạ do các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước. Các loại chất thải ngày càng gia tăng cộng với nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản bằng các phương pháp có tính huỷ diệt. Nạn chặt phá rừng ngập mặn, phá huỷ rạn san hô đi kèm sử dụng không hợp lý hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón trong sản xuất nông nghiệp…”

Do công tác quản lý đất ngập nước còn nhiều hạn chế và không làm rõ được các chức năng và giá trị của các cùng đất ngập nước, nhất là các vùng đã được phân cấp, các hệ sinh thái vẫn đang bị tổn thất với tốc độ đáng báo động. Tại châu thổ sông Mê Kông, chỉ riêng tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu (trước đó là tỉnh Minh Hải) chuyển đổi hơn 80% diện tích rừng ngập mặn thành ao nuôi trồng thuỷ sản suốt 40 năm qua. Các vùng đất ngập nước nội địa như rừng tràm cũng đang bị áp lực lớn do thâm canh nông nghiệp, huỷ hoại các con sông và phá rừng. Biến đổi chế độ thuỷ văn vùng thượng lưu có tác động gián tiếp đến các vùng đất ngập nước ven biển, những nơi có ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng hộ ven biển.

Thách thức đối với đất ngập nước là rất to lớn. Các hệ sinh thái đất ngập nước của nước ta chiếm diện tích rộng lớn nhưng hầu như chưa được chú ý đầy đủ và đánh giá đúng mức cũng như thiếu sự đảm bảo về thể chế và pháp lý. Cần có những nỗ lực trung và dài hạn để xây dựng cơ sở tri thức, khung thể chế và pháp lý, nâng cao nhận thức của cộng đồng và những người làm chính sách cũng như tăng cường năng lực ở các cấp đã được phân cấp để quản lý hợp lý đất ngập nước. Tuy nỗ lực như vậy có thể bắt đầu bằng một chương trình tương đối nhỏ song chắc chắn theo thời gian nỗ lực đó cần được phát triển thành một hệ thống toàn quốc toàn diện trong lĩnh vực đất ngập nước mới mong đạt được sự quản lý hợp lý đất ngập nước.

Về hệ thống luật pháp

Việt Nam chưa có luật riêng về ĐNN, còn thiếu các quy định, pháp luật về quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững ĐNN; thiếu những quy định cụ thể và rõ ràng về hệ thống quản lý nhà nước; thiếu sự thống nhất về cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban ngành, địa phương trong các hoạt động liên quan đến ĐNN và thiếu các chế tài để thi hành. Những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động quản lý và bảo tồn ĐNN chủ yếu do Bộ và các địa phương ban hành, còn thiếu các văn bản mang tính pháp lý cao như Nghị định của Chính phủ. Hiện nay, mới chỉ có Nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất liên quan trực tiếp đến phân công trách nhiệm quản lý ĐNN. Các văn bản do Uỷ ban Nhân dân các địa phương ban hành còn nặng nề về biện pháp hành chính, thiếu các chế tài huy động sự tham gia của cộng đồng trong khai thác ĐNN. Do đó, các văn bản pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu của việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN.

Hệ thống chính sách và pháp luật để quản lý ĐNN còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện. Các điều khoản qui định pháp lý có liên quan đến ĐNN bị phân tán, chồng chéo trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, thiếu cụ thể, chưa đảm bảo được tính khoa học và đồng bộ, chưa tính hết các yếu tố kinh tế – xã hội nên rất khó thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả. Nhiều thuật ngữ và khái niệm liên quan đến ĐNN đã không được quy định thống nhất và giải thích rõ ràng trong các văn bản pháp luật và chính sách của Việt Nam

Về quản lý đất ngập nước

Một trong những thách thức rất to lớn đối với quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN là sự gia tăng dân số (khoảng 1,32%/năm), mật độ dân số ở nhiều vùng ĐNN rất cao (ví dụ 276 người/km2 ở các huyện ven biển), tỷ lệ đô thị hóa nhanh (đến năm 2010 khoảng 33%) mà không được kiểm soát hợp lý.

Các nhà quản lý và những người được hưởng quyền lợi chưa hiểu biết đầy đủ, thấu đáo về chức năng và giá trị của ĐNN đối với kinh tế, xã hội, sinh thái, tầm quan trọng của quản lý, bảo tồn dẫn đến việc sử dụng và ra quyết định liên quan trực tiếp đến ĐNN còn thiếu tính thực tiễn và tính khả thi.

Hiện nay, quản lý ĐNN ở Việt Nam còn mang tính đơn ngành, chồng chéo, thiếu phối hợp, thiếu tập trung, chức năng quản lý ĐNN chưa được phân định rõ. Các chính sách về quản lý ĐNN thường không nhất quán, thiếu tính hệ thống và thường bị thay đổi theo thời gian nên đã gây ra những tác động xấu như gây suy thoái, tổn thất ĐDSH, ô nhiễm môi trường. Thiếu quy hoạch tổng thể quản lý ĐNN, các quy hoạch cụ thể hoặc còn thiếu hoặc không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng. Điều đó đã gây ra xung đột môi trường trong việc sử dụng ĐNN, làm suy thoái tài nguyên. Các quy hoạch quản lý lãnh thổ, phát triển kinh tế, giao thông, hồ chứa, thủy lợi, thủy điện, du lịch làm thay đổi hoặc gây trở ngại cho việc quản lý ĐNN. Việc quản lý theo mệnh lệnh hành chính từ trên xuống thường khó huy động và khuyến khích được sự tham gia và quyền tự chủ của cộng đồng.

Thiếu cơ sở dữ liệu ĐNN Việt Nam đồng bộ, hệ thống, độ tin cậy cao, dễ cập nhật và sử dụng.

Các vùng ĐNN có giá trị cao vẫn chưa được quy hoạch bảo tồn và quản lý có hiệu quả. Theo thống kê của Cục Bảo vệ Môi trường năm 2001, “Các vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường cao”, nhiều vùng ĐNN chưa có chính sách quản lý, bảo tồn phù hợp.

Đầu tư nguồn lực cho việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị của nó. Nguồn vốn đầu tư cho đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, xây dựng các mô hình phát triển bền vững ĐNN, cho việc bảo tồn, bảo vệ môi trường và tài nguyên vùng ĐNN còn ở mức thấp, không hợp lý, thiếu cân đối.  Việc nghiên cứu và điều tra tổng hợp về ĐNN chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và tính hệ thống. Đội ngũ những người nghiên cứu và điều tra tổng hợp về ĐNN chưa được chú trọng bồi dưỡng và đào tạo.

Các phương pháp nghiên cứu hiện đại chưa được quan tâm đúng mức để cải tiến, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Chưa có được cơ sở dữ liệu đầy đủ về ĐNN, kiểm kê, giám sát (monitoring) và đánh giá đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững cũng như quản lý và bảo tồn ĐNN.

Nhận thức và kiến thức về quản lý và bảo tồn ĐNN còn chưa đầy đủ, sự hiểu biết về chức năng, giá trị và tầm quan trọng của ĐNN còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ĐNN chưa được chú trọng, chưa phù hợp với từng đối tượng khác nhau. ĐNN chưa được đề cập trong các chương trình giáo dục môi trường.

ĐNN Việt Nam đã và đang trải qua biến đổi khá mạnh theo các xu thế sau đây:

a. Số lượng kiểu loại và diện tích ĐNN nhân tạo (hồ thủy điện, thủy lợi, đầm nuôi thủy sản, ruộng lúa, vùng xử lý nước thải…) tăng lên, nhưng diện tích các kiểu ĐNN tự nhiên, đặc biệt là rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, bãi triều lầy, rừng tràm, hồ tự nhiên giảm đi ngày càng mạnh.

b. Vai trò, giá trị sử dụng ĐNN đối với phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, hạn chế tai biến của ĐNN ngày càng tăng.

c. Chất lượng môi trường và hệ sinh thái ĐNN ven đô thị, khu công nghiệp, vùng nuôi trồng thủy sản và sản xuất lúa nước, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô,… bị suy thoái ngày càng mạnh, ĐDSH các vùng ĐNN có xu hướng suy giảm.

d. Các đe dọa đối với ĐNN có xu hướng gia tăng: thiên tai, chiến tranh, sức ép dân số, khai thác quá mức và bất hợp lý, bất cập về phương thức, cơ chế, bộ máy quản lý, thiếu sự kết hợp giữa chiến lược phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường, ĐNN.

e. Nhận thức về chức năng, giá trị, về bảo tồn ĐNN ngày càng được nâng lên nhưng còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững ĐNN.

f. Cách tiếp cận, công cụ quản lý ĐNN ngày càng hiện đại, khoa học, đa dạng hơn. Số lượng các văn bản pháp luật liên quan tới ĐNN, số lượng cơ quan, bộ phận quản lý ĐNN ngày càng tăng, nhưng sự phối hợp, hiệu lực, tính hiệu quả, tác động tích cực của hệ thống thể chế, quản lý không tăng tương ứng và còn khiêm tốn.

g. Số lượng các đề tài, dự án, công trình khoa học liên quan tới ĐNN tăng mạnh, tiềm lực khoa học (số lượng cơ quan, số lượng cán bộ, trang thiết bị,…), nghiên cứu về ĐNN tăng lên nhưng kết quả nghiên cứu khoa học về ĐNN chưa được sử dụng và phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó cũng còn nhiều nghiên cứu còn mang tính hình thức chưa đáp ứng được yêu cầu về thực tế Việt Nam nhất là thiếu những mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN.

h. Công tác tuyên truyền giáo dục về ĐNN ngày càng được chú ý, nhưng công tác đào tạo chính quy về ĐNN chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng được yêu cầu về sử dụng, quản lý và bảo tồn ĐNN.

i. Số lượng đề tài, dự án hợp tác quốc tế, số lượng các cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế liên quan ĐNN mà Việt Nam có tham gia ngày càng tăng và càng có tác dụng tích cực cho việc bảo tồn, sử dụng, quản lý ĐNN.

4.5. Bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN cần có sự quan tâm, tham gia của các ngành, các cấp, cần có một chiến lược quản lý tổng hợp lâu dài cùng với một khung pháp lý và thể chế phù hợp. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái ĐNN ở Việt Nam mới chỉ là bắt đầu, rất cần cần sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế và trong nước.

Nguồn:www.wattpad.com/367435-các-vùng-đất ngập-nước-ở-Việt-nam-tiềm- năng -và-thách-thức

Advertisements

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: