HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

VIỆC BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ NHỮNG VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

 

Diện tích đất ngập nước trên thế giới đang trong tình trạng bị đe dọa. Những vùng đất ngập nước được tìm thấy đều là những vùng đất không sinh lợi mà đáng lẻ phải được cải tạo thành những vùng đất có ích hơn cho sản xuất . Quan điểm trên cho thấy cách hiểu sai lầm nghiêm trọng về vai trò kinh tế và sinh thái sống còn của vùng đất ngập nước. Ở Việt Nam cũng như các nơi khác thường chỉ sau khi những vùng đất ngập nước bị mất đi ( thường trong khoảng thời gian ngắn chỉ có những ích lợi về kinh tế ) thì giá trị thực sự của vùng đất ngập nước mới trở nên rõ ràng.

Giá Trị Của Những Vùng Đất Ngập Nước

Việt Nam là nước có diện tích đất ngập nước và hệ sinh thái biển phong phú.Những vùng đất ngập nước được phân bố chủ yếu ở hai khu vực đồng bằng (sông Hồng và sông Cửu Long ) và dọc theo bờ biển 3260 km , là nơi tập trung dân cư đông đúc ở các cửa sông.Đất ngập nước khác bao gồm cả suối, sông, ao, hồ, các đầm nước ngọt,các vùng phá ven biển, bãi bùn hay vành đai cát ở biển.

Cả hai nền kinh tế lẫn văn hoá Việt Nam đều gắn bó chặt chẽ với các vùng sông nước.Ngành nông nghiệp và thủy sản đang phát triển của Việt Nam bị phụ thuộc quá nhiều vào sự bền vững của hệ sinh thái vùng sông nước đa dạng.Chỉ ở đồng bằng sông Cửu Long diện tích trồng luá đã chiếm khoảng 53% trong tổng số.Hệ sinh thái vùng sông nước và miền duyên hải đang thu hẹp đã gây ra một vấn đề sống còn về chổ ở cho các toàn thể mối quan hệ quan trọng về mặt đa dạng sinh học. Phía Bắc châu thổ sông Hồng và phiá Nam đồng bằng sông Cửu Long là nơi trú đông quan trọng cho hơn 100 loài chim sống ở nước di cư.Hơn nữa, vùng sông nước đã mang lại vô số lợi ích bao gồm bao gồm cả việc ổn định chu kỳ nước và bảo vệ những vùng trong khu vực khỏi bị ngập lụt. Đất ngập mặn giử vai trò chống lại bão và bảo vệ vùng biển khỏi bị xói mòn.

Những Vấn Đề Chính Trong Việc Quản Lý Hệ Sinh Thái Đất Ngập Nước Ơû Việt Nam

Những khó khăn chung

• Việc sắp xếp tổ chức không rõ ràng.

• Không có sự kiểm tra chung cho vùng ngập nước ở Việt Nam.

• Những khó khăn về việc thi hành luật pháp và qui định

• Thiếu ý thức và sự hiểu biết về giá trị và những mối đe doạ đến hệ sinh thái vùng sông nước ở nhiều mức độ.

Mối đe dọa đến nhiều mặt

  • Nghèo luôn là thử thách lớn đối với việc giải quyết bất cứ các vấn đề bảo tồn nào ở Việt Nam.
  • Nghèo dẫn tới việc phá hoại nguồn cá bằng mọi cách như: dùng chất nổ, thuốc cá, xiệt điện, giăng lưới.
  • Nuôi trồng thủy sản được phát triển ở nhiều vùng không thích hợp chẳng hạn như trồng đước ở các ao đầm thường chỉ kéo dài được một vài năm.
  • Nạn ô nhiễm ( từ các khu công nghiệp và chất thải sinh hoạt, và từ nông dược)
  • Việc gia tăng di chuyển của các tàu bè qua các vùng sông nước.
  • Việc khai thác các quặng mỏ.
  • Sự trầm tích lâu ngày từ việc nạo vét đất ở các hải cảng lớn và sự xói mòn đất.
  • Mở rộng khai thác các lớp cát đá
  • Hệ thống thoát nước cho nông nghiệp
  • Mở rộng các cơ sở xây dựng và phát triển.
  • Nạn săn bắt cá tràn lang
  • Một nhu cầu cấp bách đặt ra về cách sử dụng đất tốt hơn là đặt kế hoạch phát triển việc nuôi trồng thủy sản và giải pháp này được áp dụng không chỉ cho phép phát triển ở các vùng có cây đước.

Những vấn đề về đất phát canh

Vùng đất ngập nước ở Việt Nam đang gánh chịu chung một tình hình về “chiến lược vì cộng đồng”.Các cá nhân thường thiếusự kiểm soát các nguồn tài nguyên của vùng đất ngập nuớc và khi họ không thể kiểm soát được các hoạt động phá hoại của người khác thì chính họ thường cố gắng khắc phục theo những cách không bảo đảm. Một vấn đề lớn khác nữa đang tồn tại ở vùng ngập nước là những vùng đất này không được công nhận trong danh sách dưới bộ luật đất đai gần đây.Chương 11 của bộ luật đất đai có 6 phần:

1. Đất nông nghiệp.

2. Đất rừng

2. Đất dành cho ccác khu dân cư

3. Đất ở nông thôn

4. Đất chuyên biệt

5. Đất không sử dụng

Chỉ có những vấn đề trên về đất ngập nước được nêu ra trong chương 47 cuả bộ luật bàn về việc phân bố bề mặt đất ngập nuớc cho việc nuôi trồng thủy sản và ở chương 62 liệt kê ra các vùng nước ngọt như là một hạn mục về đất cần khai thác.

Những vấn đề về thi hành luật

Một nhận xét chung về việc thi hành các điều luật có liên quan đến quản lý vùng đất ngập nước là không thể bắt buộc được.Ngay cả ban hội đồng Ramsar cuả Việt Nam cũng cảm thấy không làm được điều gì đối với việc săn bắt cá và nuôi trồng thủy sản bất hợp pháp.Chúng ta không thể phạt những người vi phạm không có tiền.Sự hỗ trợ của cộng đồng dành cho những nổ lực bảo tồn này là những mục tiêuvô cùng thiết yếu và bắt buộc mà lại kéo dài không hiệu quả.

Những vấn đề trùng lấp vế chính trị và điều hành

Có nhiều vấn đề đáng lưu ý về những nhiệm vụ trùng lấp và không rõ ràng đối với các vùng đất ngập nước ở Việt Nam.Gần đây các bộ và uỷ ban có trách nhiệm ban hành các luật lệ về đất ngập nước.Tuy nhiênkhông có một chính quyền địa phương nào chịu trách nhiệm xếp đặt và quản lý các hoạt động có liên quan đến hệ sinh thái đất ngập nước.

Trước những vấn đề và mối đe dọa nói trên, sự suy giảm gần đây cuả hệ sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam đượ c xem như là hành động cấp bách để ngăn chặn các hoạt động trong đời sống sinh nhai (bao gồm cả thực phẩm, đất canh tác và nghề nghiệp) cuả những người đang sống trong hoặc gần vùng đất ngập nước. Điều này chỉ ra được tầm quan trọng của việc bảo tồn và quản lý vùng đất ngập nước đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam.

 Sự Quan Tâm Của IUCN Đối Với Việc Bảo Tồn và Quản Lý Đất Ngập Nuớc ở Việt Nam

Ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 90, ICUN đã quan tâm đến điều lệ về đất ngập nước và các nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam.

Được sự hỗ trợ từ IUCN ban Ramsar Xuan Thuy đã được thành lập và chương trình về các hoạt động cộng đồng ở vùng đệm Xuan Thuy đã được phát triển vào đầu những năm 90.Chương trình này vừa mới tạm ngưng nhưng IUCN vẫn duy trì mối lien hệ chặt chẽ với Ramsar National ở Hà Nội, đây là Ban bảo vệ môi trường quốc gia.

IUCN đã giúp cho cuộc thảo luận toàn quốc năm1998 về quản lý khu Tam Giang- Cầu Hải ở tỉnh Thừa Thiên Huế do Ramsar tổ chức được diễn ra thuận lợi. IUCN cũng đã hỗ trợ kỹ thuật cho rừng quốc gia Tràm Chim và vùng ngập nước ở cửa sông Hồng vào năm 2000. IUCN đã giúp đỡ phát triển chương trình về những vùng đất ngập nước thông qua việc hỗ trợ các cuộc bàn bạc và giúp đỡ tổ chức các cuộc hội thảo và hội họp toàn quốc . Vào năm 1995, bản đềcương chiến lược đã được NEA và IUCN áp dụng và được phát triển thành dự án” Towards a National Wetlands Progamme”, dự án được NEA và IUCN thực hiện vào năm 1999 và 2000.Dự án này bướcđầu phát triển được nhiều hoạt động đổi mới hổ trợ cho việc nâng cao ý thức đối với những người làm chính sách và dân chúng.Sự xem xét lại việc ban hành luật pháp phù hợp với việc bảo tồn và quản lý vùng ngập nước được thực hiện theo tổ chức cuả dự án này. Dự án hổ trợ thành công những cuộc hội thảo liên ngành đối với một chính sách mang tính toàn quốc về những vùng đất ngập nước.

Mối quan hệ hữu nghị giữa Viêt Nam National MekongCommittee được thúc đẩy mạnh từ năm 1998 khi phát triển kiến nghị chương trình về sự đa dạng sinh học ở vùng ngập nước sông Cửu Long được bắt đầu vào tháng 9 năm nay. Trong mối hơp tác giữa Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế ,một đề nghị đã được phát triển vào giữa năm1999 về kết hợp chươnh trình quản lý nuớc sạch ở sông Hương. Sau đợt lũ lụt ở miền trung Việt Nam vào cuối năm1999, dự án đã được phát triển hơn nữa để hoàn thành bản đề nghị trong suốt qúa trình thiết kế dự án vào quí tháng 6 – 2000. Bảng đề nghị đang sắp được hoàn thành.

 Kết Luận

Từ kinh nghiệm IUCN và những thử thách cấp bách đang tồn tại trong việc bảo tồn và quản lý vùng ngập nước ở Việt Nam, một nhu cầu cấp thiết đặt ra là về chính sách, các kế hoạch hoạt động quốc gia và lồng ghép, kết hợp với quản lý. Sự hỗ trợ phát triển và thực hiện chương trình tìm hiểu về đất ngập nước cho Việt Nam được tán thành mạnh mẽ. Chương trình này nên nhằm mục đích cho việc quản lý lâu dài và mở rộng việc sử dụng những vùng đất ngập nuớc ở Việt Nam thông qua các chính sách, kế hoạch và quản lý cùng với việc nâng cao ý thức.Chương trình gồm 5 mục tiêu chính: (i) đẩy mạnh nghiên cứu toàn quốc và xây dựng năng lực, (ii) phát triển kế hoạch hoạt động toàn quốc ở những vùng ngập nước, (iii) xây dựng năng lực quản lý vùng đất ngập nước ờ các tỉnh thành bao gồm việc chỉ định các hoạt động bảo tồn và phát triển ở các vùng đất ngập nước được lựa chọn, (iv) nâng cao ý thức bảo vệ vùng ngập nước cho các nhóm hoạt động chính khác nhau, từ người quản lý cho tới người dân và (v) mưu sinh lâu dài cho người dân.

Chương trình này và sự liên kết của nó vớí các chương trình hàng đầu khác ở Việt Nam như là giảm nghèo, trồng lại 5 héc ta rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học sẽ đóng góp một cách hiệu quả vào sự phát triển bền vững.

Vũ Minh Hoa
IUCN Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s