HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Giải pháp hữu ích cho cộng đồng Ven Biển

 Đây là giải pháp đã được Cục Sở hữu Công nghiệp, Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường công nhận năm 1999 cho Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thực hiện tại Tiền Hải, Thái Bình là mô hình Ao tôm sinh thái hay mô hình phục hồi rừng ngập mặn mà người đứng tên trong công trình này là PGS.TS Lê Diên Dực. Một trong nhưng chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực  nghiên cứu đất ngập nước Việt Nam. Trải qua bao nhiêu năm nghiên cứu về đất ngập nước, ông đã để lại một khối tư liệu lớn cho lĩnh vực ĐNN. Ông cũng là người đã đặt nền móng cho hoạt động nghiên cứu ĐNN và chim nước của CRES cho đến ngày nay như những nghiên cứu về quản lý và sử dụng bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng và  mô hình  Ao tôm sinh thái là một trong nhưng công trình được phát minh sáng tạo theo cách tiếp cận dựa vào cộng đồng và đã thu được nhiều thành công trong công tác phục hồi và tái tạo rừng ngập mặn cho các cộng đồng ven biển. cùng với các công trình nghiên cứu khác….. từ cấp nhà nước đến cấp địa phương.

Ngoài ra ông còn là một nhà nghiên cứu đặt nền móng cho hoạt động đeo vòng chim (bird banding scheme) đã được thực hiện rất sớm, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu trong nước cũng như hợp tác quốc tế với Nhật Bản và Ôxtrâylia, v.v… Có 3 thành viên của Nhóm được cấp giấy phép đeo vòng chim quốc tế, được đào tạo từ Ôxtrâylia và Nhật Bản. Hiện nay, Việt Nam cũng đã phấn đấu có vòng chim của riêng mình, mang nhãn hiệu và địa chỉ của Việt Nam (CRES, VNU)..

Mục đích của mô hình là đề xuất phương pháp hồi phục rừng ngập mặn tức là khôi phục rừng ngập mặn đã bị chết trong ao nuôi tôm cá đã bị hỏng, thích hợp cho việc nuôi tôm, cá nước lợ, nhằm đáp ứng những yêu cầu về sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước ven biển, xoá đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra v.v…

Địa điểm áp dụng:

Mô hình này sử dụng để hồi phục lại những ao tôm đã xuống cấp do thiết kế ao theo kiểu cũ gây phá huỷ rừng ngập mặn. Mô hình được thực hiện tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định.

 Điều kiện tự nhiên:

  • Vùng ven biển có rừng ngập mặn ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định có địa hình dốc từ Bắc xuống Nam, dài từ Tây sang Đông. Độ cao trung bình từ 40,5 – 40,7 cm, điểm cao nhất là Cồn Lu có độ cao +1,5m so với mực nước biển.
  • Khí hậu: Vùng ven biển Giao Thủy nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, trùng với mùa mưa; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trùng với mùa khô.
  • Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 24o C; nhiệt độ cao nhất trong mùa hè 40,3oC; nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8C. ẩm độ trung bình 84%
  • L­ượng m­ưa: Trung bình năm 1700-1800m; Số ngày mưa trong năm là 133 ngày.
  • Gió: Về mùa đông thịnh hành là hư­ớng Bắc, đầu mùa hè là hư­ớng Đông sau chuyển hư­ớng Đông Nam và Nam. Tốc độ gió: Mùa đông từ 3,2 – 3,9 m/s (trong đất liền 2,0-2,5m/s), mùa hè từ 4,0 – 4,5 m/s (trong đất liền 2,3-2,6m/s); tốc độ gió lớn nhất trong khi có bão, giông tố lên tới 45-50m/s (trên cấp 12).
  • Thủy văn: Độ mặn ven bờ bãi độ mặn biến đổi rất lớn từ 11-30‰. Sự biến thiên của độ mặn còn tùy thuộc vào các tháng trong năm và không gian cụ thể của từng vùng bãi. Cự li xâm nhập mặn ở hàm l­ượng 1‰ NaCl vào sâu tới 10km và ở hàm l­ượng 4‰ tới 5km.
  • Thủy triều: Thuộc chế độ nhật triều, chu kì trên dư­ới 23 giờ, ngoài ra còn có những tr­ường hợp tập triều như­ng rất ít, thủy triều t­ương đối yếu trong 1 ngày, biên độ triều trung bình khoảng 150 đến 180cm, lớn nhất 3,3m, nhỏ nhất 0,25m.
  • Thổ như­ỡng: Đất đai tự nhiên toàn vùng cửa sông Hồng nói chung đ­ược thành tạo từ nguồn phù sa bồi (phù sa bồi lắng) của toàn bộ hệ thống sông Hồng. Vật chất bồi lắng bao gồm 2 loại hình chủ yếu: Bùn phù sa và cát lắng đọng.

Nội dung chính của mô hình:

Quy mô, diện tích có thể áp dung: Mô hình được thiết kế áp dụng với ao có diện tích tối đa 10 ha.

Mô hình bao gồm:

Ao nuôi tôm

  • Kênh đào: Một hệ thống kênh đào bao gồm kênh chính chạy xung quanh phía trong ao và các kênh nằm ngang (kênh xương cá). Kênh chính này có chiều rộng 9 m và dốc dần về phía biển. Ở miệng cống có đặt một lưới chắn để giữ tôm, cá trong khi tháo nước ra. Tiếp đến một cống điều tiết nước được đặt hướng ra biển. Các kênh nằm ngang cũng có chiều rộng 9m có tác dụng làm tăng độ thoáng cho tôm cá và tại điểm nối với kênh chính chúng có độ sâu bằng độ sâu của kênh chính. Các kênh chính và kênh ngang tạo ra các ô đất giữa chúng để trồng cây ngập mặn. Độ sâu của kênh phụ thuộc vào độ chênh giữa đáy cống và mực nước triều thấp nhất và vào địa hình của từng vùng. Hệ thống kênh này chiếm khoảng 20% diện tích ao nuôi.
  • Cây trồng: Các cây trồng trong ao bao gồm: Sú (Aegiceras corniculatum), Trang (Kandelia obovata), Bần (Sonneratia caseolaris). Cây ngập mặn sẽ được trồng ở các ô đất nằm lọt giữa các kênh. Các ô đất này có độ cao bằng độ cao của nền ao đã bị hỏng có diện tích bằng 85% diện tích của ao. Tuy nhiên cây sẽ chỉ được trồng trên 75% diện tích. phần đất còn lại 5% là bãi trống được dùng làm nền bổ sung thêm thức ăn cho tôm, cá nuôi trong ao. (xem lại phần diện tích của ao)  Diện tích toàn bộ ao là 10 ha như đã nêu. Những phần trồng cây và làm nơi cho tôm ăn cũng nằm trong đó chứ không tăng diện tích để có thể thay nước tốt khi triều thấp.

Kỹ thuật trồng:

  • Các cây ngập mặn này sẽ được trồng với khoảng cách như nhau. Nếu trồng cây bằng quả thì khoảng cách thích hợp là 1m. Sau đó tuỳ thuộc vào độ lớn của cây, tốc độ tạo tán có thể tỉa bớt các cây phát triển kém để tạo điều kiện cho các cây khác có thể phát triển tốt hơn..
  • Nếu trồng bằng cây non thì khoảng cách tốt nhất là 2m. Tuy nhiên khi trồng cây phải chú ý đến độ bằng phẳng tương đối của đáy ao. Những chỗ trũng hơn thì trồng sú còn những chỗ cao hơn thì trồng trang.
  • Sau một thời gian thử nghiệm trồng cây non theo quy cách trên, các cây cách nhau 2m trong mô hình ao cải tiến, các cây ngập mặn đã lên tốt. Cây sú có độ cao trung bình 80cm sau thời gian trồng một năm. Cây trang cũng có chiều cao trung bình từ 90-100cm. Các cây này khi trồng vào ao đã có chiều cao trung bình từ 40-50cm. Tỷ lệ sống của các cây trong ao khoảng 70%. Nguyên nhân chủ yếu làm cây non chết là do tình trạng ô nhiễm trong ao cũ chưa được hồi phục và do cây bị đứt rễ trong quá trình đào và vận chuyển. Tuy nhiên, các cây ngập mặn này sau thời gian 5-6 tháng đã có tốc độ lớn xấp xỉ với tốc độ lớn trong điều kiện tự nhiên.

Quy trình vận hành:

Việc vận hành ao chủ yếu dựa vào chế độ thuỷ triều để tạo ra mức nước lên xuống trong ao gần giống thuỷ triều tự nhiên và như vậy là thay nước ao nuôi.

  • Tháo nước ra khỏi ao: Lợi dụng thuỷ triều xuống, mức nước bên ngoài thấp hơn trong ao, mở cửa cống cho nước chảy ra ngoài. Vì mương dốc dần từ phía đối diện với cống nên khi mở cửa cống nước sẽ chảy dốc dần ra cống và thoát ra biển cho đến khi tất cả các cây ngập mặn hở gốc thì đóng cửa cống lại tạo điều kiện tốt cho rễ khí sinh hô hấp. Khi đó tôm, cá sẽ xuống trú dưới mương. Nhưng có lưới chắn nằm trước cống nên chúng không thoát được ra biển mà bị giữ lại. Hai mương nằm ngang ao cũng sẽ tạo ra hai luồng nước chạy ngang làm cho ao thêm thông thoáng. Bằng cách tháo nước như vậy ta có thể thay nước cho ao thường xuyên và với lượng nước lớn (khoảng 3/4- 4/5).
  • Lấy nước vào ao: Khi triều lên cao, mức nước ở ngoài cao hơn ở trong ao, của cống được mở để lấy nước vào cho đến khi mực nước trong và ngoài ao bằng nhau thì đóng cửa cống lại. Khi nước vào đầy ao thì tôm, cua, cá lại phát tán ra toàn ao và sinh sống gần như ngoài thiên nhiên.
  • Cứ như vậy quy trình vận hành ao được tiếp diễn hàng ngày.

Với quy trình như vậy cây ngập mặn có thể tồn tại và phát triển tốt trong ao nhờ việc lưu thông nước liên tục. Ngoài ra, việc lưu thông này còn đảm bảo độ mặn của nước trong ao và làm phong phú thêm lượng động, thực vật thuỷ sinh (có trong nước biển). Các sinh vật đáy như giun nhiều tơ, ấu trùng của côn trùng thuỷ sinh v.v…cũng cần có các chu kỳ hiếu khí và yếm khí mới sinh trưởng và phát triển được. Đây là hai nguồn cung cấp thức ăn chính cho tôm và cá trong ao. Do đó, thức ăn tự nhiên cho tôm cá trong ao này sẽ phong phú hơn rất nhiều so với ao theo kiểu cũ. Đó chính là nguyên nhân làm tăng năng suất cho tôm cá.

  • Đối với ao cũ không có hệ thống kênh thoát nước, nên phải giữ nước ngập thường xuyên vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn cây trong ao bị chết hàng loạt. Lá và thân cây bị chết phân huỷ trong nước tạo ra khí H2S gây ra hiện tượng thiếu ô xy. Nước trong ao bị ô nhiễm dẫn đến ao bị hỏng không tiếp tục sử dụng được. Nhờ phương pháp khôi phục rừng ngập mặn trong ao bị hỏng đã khắc phục được các nhược điểm nêu trên. Do vậy ao có thể được sử dụng trong một thời gian dài.

Hình 1. Mô hình ao tôm sinh thái  

  Lợi ích của mô hình:

Cây ngập mặn sau khi được trồng đã sống được và màu xanh của rừng dần dần trở lại. Tình trạng xuống cấp của môi trường bước đầu được giải quyết. Nếu nước được điều tiết tốt, hay nói cách khác thời gian phơi rễ khí sinh gần giống với tự nhiên thì cây sẽ phát triển nhanh hơn. Theo ước tính của các chuyên gia thì trong vòng 8 năm, cây trồng trong ao tương đương với cây trong rừng tự nhiên. Hơn nữa, tôm được thu  hoạch hàng năm với năng suất cao. Do nằm ở vùng ranh giới giữa biển và đất liền nên rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đê biển chống lại bão, sóng biển, đặc biệt là sóng thần và các tác động tiêu cực khác của biến đổi khí hậu. Ngoài ra nó còn chống nhiễm mặn từ biển vào đất liền, lọc bớt chất ô nhiễm. Đặc biệt nó còn tạo ra nguồn dinh dưỡng to lớn cho thuỷ, hải sản, là nơi ươm tạo con giống cho các loài này và là nơi sản xuất mật ong lý tưởng. Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú cho nhiều loài chim di cư, là nơi lý tưởng cho các hoạt động du lịch sinh thái và giáo dục môi trường.

Những điểm cần lưu ý:

Do hồi phục cây ngập mặn cần thời gian ít nhất là 3 năm sau khi trồng lại vào ao tôm đã bị xuống cấp. Trong thời gian này chủ đầm không được phép giữ mức nước trong ao quá cao và không thay nước theo thuỷ triều hàng ngày. Vì như vậy cây lại sẽ bị ngâm và chết như với mô hình cũ. Tuy nhiên để làm được điều này người làm đầm hầu như không có thu nhập trong 3 năm đầu. Vì vậy họ cần có một quỹ tín dụng dài hạn từ 8-10 năm để có đủ thời gian hồi phục cây ngập mặn và có thu nhập để trả nợ. Việc này chỉ có nhà nước mới đủ sức làm, cho nên muốn mở rộng mô hình có hiệu quả thì nhà nước phải sớm vào cuộc, giải quyết những vướng mắc về đầu tư cho dân yên tâm hồi phục lại hệ sinh thái đã bị xuống cấp nghiêm trọng.

Một vấn đề khác là thời hạn sử dụng đất của người làm ao tôm. Hiện huyện sở tại chỉ cho người làm đầm tôm đấu thầu đất từ 10 – 15 năm. Khi ao tôm đã xuống cấp(cần xem lại câu này vì ở phần trên có nêu “Theo ước tính của các chuyên gia thì trong vòng 8 năm, cây trồng trong ao tương đương với cây trong rừng tự nhiên. Hơn nữa, tôm được thu  hoạch hàng năm với năng suất cao.” Phần này là viết cho ao đã xuống cấp phải hồi phục. Nếu chỉ được thuê đất trong vòng 15 năm thì 5-6 năm đầu sử dụng ao theo kiểu cũ làm cho ao xuống cấp rồi mới bắt đầu hồi phục và trồng lại cây. Tổng thời gian là 6+8= 14 nghĩa là đã đáo hạn thu hồi đất.. thì thời hạn trên đã gần hết. Vậy nên việc hồi phục là khó khăn khi vừa mới xong thì đã hết hạn hợp đồng thuê đất. Vì vậy muốn cho người dân yên tâm hồi phục hệ sinh thái thì hạn cho thuê đất ít nhất cũng là từ 20 năm trở lên. Nếu không người dân không yên tâm đầu tư hồi phục và không thể nhân rộng được mô hình.


Advertisements

Đã đóng bình luận.