HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Một trong những tác nhân gây biển đổi Khí hậu là đập thủy điện

Gần đây đã có rất nhiều dư luận cho rằng Đập thủy điện được quan niệm như một “nguồn năng lượng sạch” và “rẻ” cần phải được thay đổi và phổ biến rộng rãi để nâng cao nhận thức của người dân cũng như các nhà quản lý về các tác động tiêu cực của đập thủy điện trong đó có các tác động liên quan đến biến đổi khí hậu. Thủy điện có thể làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu một khi lạm dụng, vượt quá sức chịu tải của thiên nhiên – là các con sông và hệ sinh thái đi kèm. Thông qua việc làm thay đổi dòng chảy sinh thái của các con sông dẫn đến làm thay đổi các hệ sinh thái, đe dọa mất đa dạng sinh học, nguy cơ nhiễm mặn, làm mất các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển trong đó có rừng ngập mặn, tấm lá chắn bão và bể chứa CO2 quan trọng, làm tăng nguy cơ nước biển dâng…và cuối cùng là các cộng đồng dễ bị tác động của biến đổi khí hậu lại càng dễ bị tổn thương hơn.  điều này được thể hiện rõ hơn ở bài viết sau đây của nhóm tác giả. PGS.TS Lê Diên Dực và Ths. Hàn Tuyết Mai thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thực hiện

Mở đầu

Biến đổi khí hậu (BĐKH), theo định nghĩa được đưa ra trong Công ước khung của Liên hợp quốc, “là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (VISTA, 2009).

Biến đổi khí hậu được xem là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới.

Việt Nam, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (trích trong Bộ TNMT, 2008), là một trong năm quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mêkông bị ngập chìm nặng nhất. Dự báo được đưa ra trong tài liệu này là nếu mực nước biển dâng 1m, khoảng 40.000km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như toàn bộ, khoảng 10% dân số sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Nếu mực nước biển dâng 3m, sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng và tổn thất GDP lên đến 25%.

Tác động của BĐKH ngày càng trở nên phức tạp và khó đoán. Theo dự báo, BÐKH sẽ làm cho các trận bão ở VN có mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Ðường đi của bão dịch chuyển về phía nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa khô (tháng 7 và 8), và tăng trong mùa mưa (tháng 4 và 11); mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ lớn và nhiều hơn ở miền Trung và miền Nam (VietnamNet, 2009).

Gần đây nhất, chỉ trong vòng vài tháng qua, hầu hết các tỉnh ven biển miền Trung đã phải liên tục hứng chịu các trận bão lớn, và lũ lụt trên diện rộng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Gây ra tình trạng này, ngoài các nguyên nhân tự nhiên, con người cũng chính là tác nhân làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu bởi các hoạt động kinh tế gắn với khai thác và sử dụng  tài nguyên thiên nhiên không hợp lý, như GS.TS. Phạm Duy Hiến, chuyên gia môi trường đã khẳng định tại buổi toạ đàm “Thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu: Nỗi sợ và hy vọng” tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 20/4/2008: “nguyên nhân chính dẫn đến khí hậu toàn cầu bị biến đổi như hiện nay chính là do tác động của con người đối với môi trường tự nhiên” (Mai Linh, 2008). Trong số các tác động này phải kể đến các dự án sản xuất thủy điện đang được triển khai một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch và quản lý lỏng lẻo như hiện nay ở nước ta.

Trong khuôn khổ bài viết này, những tác động xã hội và môi trường do xây dựng và vận hành đập thủy điện, hiện đang nhận được sự quan tâm của giới khoa học và các nhà quản lý trên thế giới cũng như trong nước, sẽ được tập trung bàn luận. Dựa trên  tổng hợp các tài liệu, số liệu nước ngoài và trong nước đã được công bố, bài viết cố gắng làm sáng tỏ mối liên hệ giữa hoạt động kinh tế này với những tác động biến đổi khí hậu mà nó góp phần làm tăng hoặc thậm chí làm trầm trọng thêm. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị tới các nhà làm quy hoạch và quản lý và các bên có liên quan cân nhắc về phát triển thủy điện trong tương lai nhằm hạn chế các tác động tiêu cực này.

Các tác động của BĐKH đối với Việt Nam

Để có cơ sở phân tích mối liên hệ giữa đập thủy điện với tác động của biến đổi khí hậu, trước hết cần xác định được các tác động của biến đổi khí hậu đối với ViệtNamlà những tác động nào.

Như Chương trình Mục tiêu Quốc gia (Bộ TNMT, 2008) đã nêu, những tác động BĐKH được dự báo đó là:

–          nước biển dâng => thu hẹp diện tích nông nghiệp => mất an ninh lương thực

=> nhiễm mặn à mất sinh cảnh  => mất rừng ngập mặn=> mất nơi cư trú thủy, hải sản

–          nóng lên toàn cầu

–          khí hậu cực đoan và thiên tai

Đập thủy điện và mối liên quan đến biến đổi khí hậu

Tình hình phát triển đập thủy điện

Có thể nói, từ giữa thế kỷ thứ 19 và suốt thế kỷ 20 là thời kỳ phát triển số lượng đập chắn – hồ chứa nước nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Hầu như chưa có hệ thống sông nào trên thế giới chưa được con người xây dựng đập chắn – hồ chứa, khác nhau chỉ ở qui mô lớn nhỏ mà thôi. Nhiều quốc gia có mạng lưới sông ngòi phong phú, nguồn thủy điện chiếm trên 80% so với các nguồn năng lượng khác và xem đây như là một một chìa khóa mấu chốt cho động lực phát triển kinh tế quốc gia (Lê Anh Tuấn, 2009).

Đập nước được xem là một biện pháp hữu hiệu để trị thủy, kiểm soát dòng chảy, giữ nước trong mùa mưa để hạn chế lũ lụt ở hạ nguồn và xả nước ở mùa khô để giảm bớt hạn hán. Từ các hồ chứa này, người ta còn chú ý khai thác nước cho việc tưới ruộng, cấp nước sinh hoạt, vận tải thủy, nuôi cá trong hồ chứa, sử dụng các hồ chứa như là một địa điểm điều hòa khí hậu, là nơi tham quan du lịch, hoạt động thể thao nước, nơi an dưỡng chữa bệnh….

Hiện nay nước ta có những nhà máy thủy điện lớn và vừa: Thác Bà, Hòa Bình, Trị An, Đa Nhim, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Yali, Đa Mi, Đại Ninh và Sông Hinh, với tổng công suất 18,62 tỷ KWh cấp vào lưới điện quốc gia. Ngoài ra còn 13 công trình đang lập báo cáo khả thi để đưa vào xây dựng trong những năm sắp tới với công suất là 6.229 MW và tổng lượng điện phát là 27,6 tỷ KWh; 6 công trình đề xuất nghiên cứu với công suất là 1.258 MW và tổng lượng điện phát là 5,54 tỷ KWh; các trạm thủy điện nhỏ với công suất là 1.000 MW và tổng lượng điện phát là 2 tỷ KWh (Vũ Đức Khánh, 2009).

Chiến lược phát triển nguồn điện của Chính phủ Việt Nam (2004) ưu tiên phát triển thủy điện, nhất là các công trình có lợi ích tổng hợp (cấp nước, chống lũ, chống hạn…); khuyến khích đầu tư các nguồn thủy điện nhỏ với nhiều hình thức để tận dụng nguồn năng lượng sạch, tái sinh này”. Theo chiến lược này, trong khoảng 20 năm tiếp theo sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy thủy điện tại những nơi có khả năng xây dựng. Dự kiến đến năm 2020 ViệtNam sẽ khai thác hầu hết các thủy điện trên các dòng sông chính (Bộ Công nghiệp, 2004).

Theo quy hoạch phát triển thủy điện cả nước đến năm 2015 có xét đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà máy thủy điện đến năm 2015 vào khoảng hơn 18.000 MW với sản lượng điện trung bình hằng năm trên 80 tỷ KWh. Trong đó, riêng 9 hệ thống sông Lô – Gâm, sông Đà, sông Mã – Chu, sông Cả, sông Vu Gia, sông Ba, sông Sê San, sông Srepok và sông Đồng Nai đã được quy hoạch phát triển các nhà máy thủy điện có tổng công suất khả dụng 15.383 MW với sản lượng điện trung bình hằng năm 63,87 tỷ KWh (chưa kể các nhà máy thủy điện nhỏ tái tạo). Các nhà máy thủy điện của 4 hệ thống sông Đà, sông Đồng Nai, sông Sê San và sông Vu Gia đã có tổng công suất lắp đặt 12.214 MW với sản lượng điện trung bình 50,38 tỷ KWh/năm.

Đến nay, chưa kể các nhà máy thủy điện nhỏ, 11 nhà máy thủy điện hiện có trên các hệ thống sông Đà, sông Đồng Nai, sông Lô-Gâm, sông Sê  San, Sông Ba và sông Vu Gia đang hoạt động với tổng công suất lắp đặt 4.153 MW, cung cấp cho đất nước trung bình mỗi năm trên 18,06 tỷ KWh, đứng thứ 2 sau sản lượng do các nhà máy điện chạy khí thiên nhiên sản xuất. Trong số đó đáng kể nhất là các nhà máy thủy điện Thác Bà, Hòa Bình, Trị An, Yaly, Hàm Thuận – Đa My… đã từng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc cung ứng điện cho đất nước những năm đầu đổi mới đầy ắp khó khăn và thiếu điện nghiêm trọng (TChí ĐVN, 2007).

Tác động của đập thủy điện liên quan biến đổi khí hậu

Có thể nói rằng trước những năm 1950, hầu như mọi người, ngay cả những nhà môi trường, đánh giá các mặt tích cực của các hồ chứa nước bao giờ cũng cao hơn các hạn chế của nó. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy xây dựng hồ chứa nước, đặc biệt các hồ có dung tích lớn, bao giờ cũng mang tính tổng hợp, vừa mang đến lợi ích cho nhiều ngành nhưng cũng để lại một số hậu quả tiêu cực cho xã hội, mà người gánh chịu thường là người dân sống trong vùng (Hồ Ngọc Phú, 2009). Nhiều quốc gia trên thế giới đã phải trả giá đắt vì các đập nước thủy điện.

Thời gian gần đây, mối quan ngại về những tác động tiêu cực hiện hữu cũng như tiềm ẩn về xã hội và môi trường của các đập thuỷ điện đã được nhiều nhà khoa học cũng như các nhà chức trách ở một số quốc gia lên tiếng và hành động. Hiện nay, một số nước đã chấm dứt chuyện xây đập làm thủy điện, thậm chí có nơi còn chấp nhận tốn tiền để phá bỏ như trường hợp của Mỹ, Nhật. Trong khi đó, VN lại dẫn đầu về thủy điện trong khu vực Đông Nam Á (Tuổi trẻ Online, 2009a).

Ở Trung Quốc, lo ngại về việc xây dựng hàng loạt đập nước trên thượng nguồn sông Mêkông bất chấp mọi hậu quả tai hại đối với con người và thiên nhiên, nguy cơ không an toàn của các hồ chứa nước, mới đây 45 nhà trí thức và chuyên gia Trung Quốc đã gửi thư yêu cầu Chính phủ Trung Quốc khảo sát lại vấn đề địa chất do nhiều hồ thủy điện lớn nằm trong vòng đai địa chấn, khảo sát lại mức độ an toàn của các hồ thủy điện theo các cơn địa chấn và động đất, đồng thời xem xét liệu các hồ nước lớn có thể là một trong những nguyên nhân gây động đất. Ngoài hậu quả sông Mêkông bị cạn nước đe dọa mùa màng, chăn nuôi ở các nước láng giềng ở trung và hạ nguồn, các hồ khổng lồ trên thượng nguồn còn là những quả bom nổ chậm, đe dọa sinh mạng người dân Trung Quốc và các dân tộc Thái, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam. Nhiều chuyên gia lo lắng đến vận mệnh nhân dân các nước hạ nguồn đã kêu gọi công luận hậu thuẫn thư yêu cầu của giới trí thức Trung Quốc để cứu nguy vùng hạ nguồn và châu thổ sông Mêkông (Linh Hương, 2009).

Ở Mỹ, từ những năm 90, hình ảnh đích thân ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ – Bruce Babbitt,  với chiếc búa tạ đi thị sát các đập thủy điện và bổ những nhát búa đầu tiên mở màn cho chiến dịch phá bỏ các đập thủy điện để mở đường cho các con sông chảy tự do  (International River Network, 1998) là sự thể hiện lãnh đạo quốc gia này đã nhận ra cái giá phải trả do tác động xấu của các đập thủy điện gây ra là làm mất đi những hệ sinh thái quan trọng cùng với đa dạng sinh học của chúng mà dựa vào đó là sinh kế của nhiều cộng đồng dân cư. Cơn bão Katrina là bài học đắt giá cho nước Mỹ do việc xây dựng nhiều đập thủy điện dọc theo sông Misissippi đã ngăn không cho phù sa ra cửa sông bồi đắp cho những bãi bùn triều là lực ma sát đáng kể có thể làm giảm tốc độ của bão. Thêm vào đó, người ta lại xây dựng những bức tường kiên cố xung quanh thành phố nhằm bảo vệ khu đô thị ngăn không cho phù sa vào (dù ở mức hạn chế) và do đó không có đất ngập nước mà xung quanh thành phố chỉ là nước trắng. Hậu quả là bão Katrina đã ập vào thành phố mà không hề bị một lực cản nào nên độ tàn phá cự kỳ lớn (ước tính cứ mỗi 2,7 dặm đất ngập nước có thể giảm được 1 foot (0,3048m) của bão nhiệt đới).  Sau bài học này, các nhà khoa học về ĐNN của Mỹ đã đề nghị phải có những biện pháp hồi phục ĐNN để phòng những trận bão sau, nếu chúng xảy đến (MAP, 2005). Đầu tháng 10-2009, Thời báo Niu Óoc đưa tin, 29 tổ chức ở Mỹ đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về việc phá bỏ bốn đập thủy điện để trả lại nguyên vẹn dòng sông Klamath chảy dọc ranh giới hai bang California – Oregon. Quyết định này được đưa ra sau nhiều năm gây áp lực bởi các nhóm bảo vệ môi trường với lý lẽ rằng các đập nước phá hoại môi trường tự nhiên của sông Klamath, ngăn cản sự di cư của cá hồi và các loài cá khác cũng như làm nhiễm độc dòng nước. Dự kiến đến năm 2020, các đập nước khổng lồ của Mỹ sẽ được phá bỏ để trả lại dòng sông như nguyên trạng lịch sử của nó. Đây là dự án phá bỏ đập thủy điện lớn nhất thế giới với tổng chi phí lên tới 450 triệu đô la Mỹ (Tuổi trẻ Online, 2009a).

Tại Nhật Bản, theo Hãng tin Kyodo News, ngay sau khi vừa thắng cử vào tháng 9-2009, chính quyền của tân Thủ tướng Yukio Hatoyama đã ngừng ngay 48 trong số 56 dự án đập thủy điện, thủy lợi trên toàn nước Nhật. Trong số các dự án bị hủy bỏ, nổi bật nhất là dự án xây đập Yamba có chi phí dự kiến lên đến 5 tỉ đô la Mỹ và hiện đã hoàn tất 70% (Tuổi trẻ Online, 2009a).

Đập thủy điện góp phần phát thải khí nhà kính

Ở ViệtNam, các nhà khoa học và quản lý cũng đã bắt đầu lên tiếng cảnh báo về các tác động tiêu cực của đập thủy điện. Như chúng ta thấy một trong những ý nghĩa kinh tế của các con sông suối ViệtNamlà sản xuất thủy điện. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thì đây không còn là nguồn năng lượng rẻ và ít ô nhiễm như nhiều người lầm tưởng và thậm chí vẫn được khẳng định trong Chiến lược Quốc gia về Nguồn điện của Chính Phủ giai đoạn 2004-2020 như đã nói ở trên. Theo các chuyên gia, nếu tính theo quan điểm tài chính, nghĩa là đồng vốn bỏ vào đầu tư xây đập, làm hồ, xây nhà máy, đền bù cho dân phải rời nơi sinh sống từ lâu đời tới một nơi xa lạ để tái định cư thì giá thủy điện rẻ gấp nhiều lần so với nhiệt điện hoặc các dạng điện năng khác. Thế nhưng tính mất rừng nhiệt đới, mất đa dạng sinh học do làm đập gây ra, làm giảm sút hệ thủy, hải sản, mất những loài cá di cư đẻ trứng vùng thượng nguồn, xói lở ở dòng sông, mất những vùng đập nước do sông biến đổi gây ra, hạ mức nước ngầm ở những nơi lòng sông bị đào sâu, sức khỏe cộng đồng và nhất là những khó khăn về xã hội do di dân thì chắc chắn là không rẻ (Lê Diên Dực, 1996).

Chúng ta biết rằng hiện tượng trái đất nóng lên, gây biến đổi khí hậu một phần là do phát thải khí nhà kính. Thủy điện từng được cho là nguồn năng lượng sạch, nhưng quan niệm này là sai vì chúng góp phần làm tăng phát thải khí nhà kính – khí mêtan (CH4), một loại khí nhà kính rất mạnh. Đã có những công trình nghiên cứu cho thấy nếu xét ở khía cạnh phát thải khí mêtan đôi khi thủy điện lại ô nhiễm hơn là nhiệt điện. Hồ chứa đập thủy điện có thể sản ra một lượng đáng kể khí mêtan và điôxit cacbon (CO2). Khí mêtan được sinh ra chủ yếu do vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện ít hoặc không có ôxy. Xác động, thực vật bị ngậm chìm dưới lòng hồ, phân hủy trong môi trường yếm khí hình thành nên mêtan. Do hệ thống ống dẫn nước cho các tua-bin thủy điện thường được đặt sâu dưới đáy hồ, dưới điều kiện áp suất cao, khí mêtan trong nước dễ dàng thoát ra bên ngoài. Theo báo cáo của Ủy hội Đập Thế giới, ở nơi nào mà hồ chứa là khá lớn so với năng lực của đập (dưới 100 W/m2 diện tích bề mặt) và không có sự phát triển trở lại của bất cứ thực vật nào đã bị phát quang, thì lượng khí nhà kính phát thải từ đập khi sản xuất điện cũng ngang như việc đốt dầu mỏ để sản xuất cùng một lượng điện (AlwaysGreen, 2009).

McCully (trong International Rivers, 2004) cho rằng những bằng chứng thực tế đã cho thấy ở vùng nhiệt đới, tác động của các đập thủy điện với các hồ chứa của chúng lên khí hậu là trầm trọng hơn so với khi sử dụng năng lượng hóa thạch, và ở vùng ôn đới mặc dù mức phát thải từ hồ chứa có ít hơn so với phương án sử dụng nhiên liệu hóa thạch nhưng cũng không thấp như Hiệp hội thủy điện quốc tế (IHA) kết luận. Điều này đã phủ nhận khẳng định của (IHA) rằng năng lượng thủy điện góp phần rất nhỏ vào biến đổi khí hậu so với các phương án sử dụng nhiên liệu hóa thạch.  Năm 1990, người ta đã ước tính được lượng phát thải khí nhà kính của Đập Curuá-Una ở Para, Bazil là cao hơn 3,5 lần so với cùng lượng điện được tạo ra từ dầu mỏ (Graham-Rowe, 2005). Còn theo Environmental New Service (2007), chỉ với 52.000 con đập lớn của thế giới đã đóng góp hơn 4% tác động gây nóng lên toàn cầu do hoạt động của con người. Theo tính toán của các nhà bảo vệ môi trường Brazil, tại những vùng nhiệt đới của đất nước này – nơi hệ thống đập thủy điện cung ứng hơn 90% nhu cầu điện của cả nước, một số hồ chứa nước giải phóng lượng khí mêtan nhiều đến mức, tỷ trọng góp phần gây biến đổi khí hậu của chúng cao hơn lượng khí thải mà nhà máy điện vận hành bằng nhiên liệu hóa thạch tạo ra (Tuyết Hồng, 2007). Nghiên cứu của viện nghiên cứu Không gian quốc gia Brazil (INPE) chỉ ra rằng các đập thủy điện lớn có thể tạo ra lượng khí mêtan hàng năm trên toàn cầu tương đương khoảng 800 triệu tấn khí CO2. Đó là chưa nói tác động của khí mêtan không tỷ lệ với khối lượng thực tế bởi loại khí này gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn gấp 21 lần so với CO2 (INPE, 2007).

Các hồ thủy điện hình thành trên các con đập làm ngập chìm các khu rừng nhiệt đới (Lưu Đức Hải, 2009) cũng đồng nghĩa với việc làm mất đi những bể chứa CO2 hữu hiệu. Hay nói cách khác làm tăng phát thải CO2 vào khí quyển. Hiện nay chưa có con số thống kê về diện tích rừng bị mất do làm thủy điện trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng từ con số ước tính về lượng CO2 phát thải vào khí quyển trên một đơn vị diện tích rừng bị mất (16,1 triệu ha rừng trên thế giới, chủ yếu ở các nước nhiệt đới được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác vào những năm 1990, đã giải phóng 1,6 Giga tấn các-bon/năm (IEA Bioenergy Task 38), hay căn cứ trên khả năng của rừng nhiệt đới có thể hấp thu CO2 (là 9,62 tấn/ha/năm) (Mongabay, 2007), người ta có thể hình dung phần nào về sự đóng góp vào biến đổi khí hậu thông qua việc gián tiếp làm tăng phát thải CO2 của thủy điện ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

Đập thủy điện làm tăng ảnh hưởng của bão lụt

Một trong các tác động của biến đổi khí hậu được thấy rõ rệt là tần suất xuất hiện của các trận thiên tai như bão lũ – hạn hán ngày một nhiều hơn, mạnh hơn và phức tạp hơn do nhiệt độ nước bề mặt của biển tăng. Một câu hỏi lớn được đặt ra là các đập nước – hồ chứa có ảnh hưởng thế nào đến tình trạng lũ lụt – hạn hán?

Ở ViệtNam, các chuyên gia cũng đã có những đánh giá về vấn đề này. Việc thi công các hồ chứa thủy điện và xây dựng đường công vụ cho thi công các công trình liên quan đã cày xới các khu rừng nguyên sinh đang ở tình trạng đáng báo động (Trương Điện Thăng, 2009). Theo một ghi nhận khác (Lê Anh Tuấn, 2009), việc cấp phép quá nhiều các dự án liên quan đến thủy điện, giao thông, các khu tái định cư v.v…, đã xâm phạm nghiêm trọng đến diện tích rừng tự nhiên. Một số chuyên gia cho rằng việc làm thủy điện là một trong hai tác nhân chính làm lũ xuất hiện ngày càng lớn và khốc liệt. Chẳng hạn, riêng dự án thủy điện Đăk Mi 4 đã lấy đi trên 1.000ha rừng tự nhiên của Phước Sơn. Ngoài ra, hàng ngàn hecta rừng bị các thủy điện Đăk Mi 2, Đăk Mi 3, Đăk Mi 4 A, B, C… lấy đi đã làm cho mưa ở thượng nguồn không còn vật cản.

Rừng tự nhiên của QuảngNamtheo thống kê đến cuối năm 2008 chỉ còn 387.000ha, giảm 41.000ha so với năm 2007. Đó là chưa kể đến hàng loạt dự án thủy điện ở đầu nguồn vừa được địa phương này cấp phép từ đầu năm 2009 đến nay (ĐăngNam- Tấn Vũ, 2009). Ông Dương Chí Công – giám đốc Sở Tài nguyên – môi trường tỉnh Quảng Nam cho biết đến nay hơn 4.000ha rừng đầu nguồn đã được địa phương này cấp phép cho các dự án thủy điện chủ yếu là lòng hồ. Tuy nhiên điều ông Công lo ngại hơn cả là “Mới triển khai bốn dự án thủy điện mà rừng đã mất hơn 4.000ha, chưa kể 6.000ha rừng phải bị chặt bỏ để để làm đường dây điện, khu tái định cư” (ĐăngNamvà Tấn Vũ, 2009). Và theo ông “nếu QuảngNamtriển khai hết số thủy điện đã phê duyệt thì mọi chuyện sẽ không tưởng tượng được”. Trước tình hình “mạnh ai nấy làm đường điện ở các dự án thủy điện đang diễn ra”, ông kiến nghị, “cần phải có quy hoạch tổng thể để tránh lãng phí trong đầu tư, đồng thời hạn chế mất rừng”.

Ở Bình Định, theo như hồ sơ các dự án, công trình thủy điện Trà Xom sẽ làm mất 633,7ha rừng đầu nguồn huyện Vĩnh Thạnh. Để làm các công trình thủy điện Vĩnh Sơn 2, Vĩnh Sơn 3, sẽ có gần 700ha rừng của huyện An Lão, Vĩnh Thạnh bị “làm cỏ”. Các thủy điện Vĩnh Sơn 4, Vĩnh Sơn 5; thủy điện Nước Lương sẽ “ăn mất” gần 400ha khác của tỉnh Bình Định (Trương Điện Thăng, 2009).

Mà mất rừng lại là một trong những nguyên nhân gây ra thảm cảnh lũ lụt ở nước ta hàng năm với mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Qua thực trạng xây dựng các công trình thủy điện trên các lưu vực sông tại miền Trung và Tây Nguyên trong mấy năm qua “tương đối ồ ạt, thủy điện vừa và lớn thì do Bộ Công thương quy hoạch nhưng các địa phương cũng tiến hành quy hoạch thủy điện nhỏ”, ông Hoàng Văn Bảy, Cục phó Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài Nguyên và Môi trường) (trong Trương Điện Thăng, 2009) đã khẳng định về nguy cơ mất an toàn mùa lũ, thiếu nước về mùa khô.

Vụ xả lũ của thủy điện A Vương và vỡ đập Đá Vải ở  Phú Yên cho thấy càng nhiều thủy điện càng tăng lũ lụt chứ không phòng chống bão lụt như kỳ vọng. Ngày 13.10.2009, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam – ông Lê Minh Ánh – trả lời phỏng vấn Báo Lao Động, đã khẳng định, trận lũ sau bão số 9 ở địa bàn phía bắc tỉnh thuộc vùng hạ lưu hệ sông Vu Gia -Thu Bồn đã vượt đỉnh lũ lịch sử các năm hàng mét nước một cách bất thường là có nguyên nhân từ việc điều tiết xả lũ của hồ chứa A Vương, ngoài lý do mưa lớn ở thượng nguồn. Tuy nhiên, theo khẳng định của ông Hoàng Trung Hải (PTT) về đợt lũ lụt nghiêm trọng vừa qua ở các tỉnh nam Trung bộ là “lũ làm chết 173 người, không liên quan gì đến chuyện thủy điện hết” và “mọi việc về điều tiêt lũ là đúng quy trình, và mặc dù “còn bất cập trong cơ chế phối hợp hồ chứa” nhưng “bất cập này cũng không phải là lý do gây thiệt hại vừa qua” (VietnamNet, 2009). Khẳng định này theo chúng tôi là chưa thỏa đáng và có phần vội vàng trong khi còn chưa có thông tin chính thức về kết quả điều tra thẩm định về quy trình vận hành của các đập thủy điện ở vùng này. Thêm nữa, điều cần nói ở đây là, chưa kể đến việc điều tiết lũ của các đập thủy điện này có được tuân thủ đúng quy trình hay không và quy trình đang nói tới là quy trình độc lập hay của toàn bộ hệ thống đập trên hệ thống sông, cộng thêm nhiều vấn đề khác trong đó có vấn đề về sự sai lệch giữa dung tích thiết kế với dung tích thực tế của các hồ chứa như một số bài báo (RFI, 2009; VietnamNet, ngày 6/11/2009) đã bình luận, thì khi nói đến tác động của các đập thủy điện không thể không liên hệ tới những ảnh hưởng ở phạm vi không gian và thời gian rộng hơn bởi vì những tác động tiềm ẩn từ trước hoàn toàn có thể trở nguyên nhân của những hiểm họa thực sự về sau, như tác động của mất rừng đầu nguồn làm gia tăng tình trạng lũ lụt ở nước ta mà góp phần vào đó là các công trình thủy điện như nhiều chuyên gia đã phân tích ở trên.

Về nguy cơ thiếu nước, một ví dụ điển hình được báo chí gần đây nhắc đến đó là các dự án thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia. Vu Gia là một trong những lưu vực sông liên tỉnh lớn của Việt Nam. Từ 2005, Bộ Công nghiệp đã quy hoạch xây dựng trên hệ thống sông Vu Gia đến 7 thủy điện bậc thang, đều nằm trên địa bàn Quảng Nam. Trong đó, 6 thủy điện thiết kế theo nguyên tắc trả nước về dòng cũ, riêng thủy điện Đăk Mi4 – tại huyện Phước Sơn, thiết kế hút kiệt nguồn chính của dòng Vu Gia, chuyển sang sông Thu Bồn. Với thiết kế như vậy, hơn 1.850km2 diện tích của lưu vực sông Vu Gia (kể từ đầu nguồn đến Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ “cái chết” của dòng sông. Trên 40.000 người dân cùng hàng chục nghìn hécta lúa, hoa màu thuộc các huyện Đại Lộc, Điện Bàn của Quảng Nam và Hòa Vang của Đà Nẵng sẽ bị thiếu nước. Chủ tịch UBND Tp. Đà Nẵng Trần Văn Minh cho biết: “Đây không chỉ là cảnh báo, thực tế từ tháng 7 năm 2008, khi thủy điện A Vương (một nhánh ở thượng nguồn sông Vu Gia) tích nước, đã gây hạn hán cho 10.000ha đất nông nghiệp hạ lưu, khiến Nhà máy nước Cầu Đỏ ngừng hoạt động vì nhiễm mặn… Nếu thủy điện Đăk Mi4 đi vào hoạt động theo thiết kế trên, không chỉ hàng vạn hécta đất nông nghiệp thiếu nước tưới, dân Đà Nẵng thiếu nước sinh hoạt… mà sẽ là thảm họa đối với môi sinh, môi trường, gây bất ổn xã hội” (Thanh Hải, 2009).

Theo ý kiến của các nhà khoa học, trước thực trạng chỉ hai tỉnh miền Trung là Quảng Nam, Thừa Thiên – Huế cùng hai tỉnh ở Tây nguyên là Kontum và Đắc Nông mà có gần 150 dự án thủy điện lớn nhỏ đã, đang và sẽ triển khai, thì việc triển khai tràn lan các dự án thủy điện ở miền Trung và Tây nguyên là “đánh cược với thiên nhiên”, mà phần thua chắc chắn thuộc về con người (Tuoitre Online, 2009b).

Hàng loạt công trình thủy điện từ lớn đến nhỏ sẽ cùng được xây dựng trên cùng một lưu vực hay một dòng sông (ví dụ 11 dự án thủy điện trên hệ thống sông Hương và các huyện miền núi khác ở Thừa Thiên Huế, 11 dự án thủy điện vừa và nhỏ chỉ trong huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định, hay 8 dự án thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn) nhưng chưa được đánh giá tác động mang tính hệ thống, trên phạm vi toàn lưu vực, đặc biệt là việc điều tiết nước để cấp nước trong mùa cạn và phòng, chống lũ cho hạ du trong mùa lũ” (Trương Điện Thăng, 2009).

Giải thích lý do tại sao các dự án thủy điện lại có thể triển khai “tràn lan” như vậy, nhiều người cho rằng đó là vì đầu tư thủy điện “ngon ăn mà ít rủi ro”.Theo một cán bộ tài chính trong ngành điện, việc đầu tư thủy điện hiện đang rất “ngon ăn” bởi hiệu quả kinh tế cao, thu hồi vốn nhanh. Thủy điện công suất càng lớn, địa hình tốt thì suất đầu tư thấp. Cũng theo vị này, với suất đầu tư bình quân 25 tỉ đồng/MW thì một dự án chỉ từ 8-10 năm là thu hồi vốn. Thêm vào đó phần lớn dự án thủy điện luôn được các ngân hàng ưu ái tài trợ vốn vì lý do là đầu tư thủy điện có lợi nhuận trên vốn cao và ít rủi ro, lãi suất thu được ổn định. Hợp đồng giải ngân nhanh và thuận lợi hơn các dự án khác. Một cán bộ của thủy điện A Lưới cho rằng nếu kịp phát điện trong quý 1-2011 thì chỉ sau chín năm nhà máy sẽ thu hồi đủ 3.234 tỉ đồng đã đầu tư. Trong khi các nhà máy thủy điện lớn như Hòa Bình, Trị An… đều phải giảm công suất vào mùa khô kiệt (từ tháng 9 đến tháng 12) do hết nước, thì ngược lại thời điểm này miền Trung đang vào mùa mưa, các nhà máy điện đều chạy hết công suất nên rất kinh tế, lợi nhuận mang lại rất cao.

Sức hấp dẫn từ các dự án thủy điện cũng đã thu hút nhiều doanh nghiệp ngoài ngành điện quan tâm. Hơn hai năm trở lại đây, hàng loạt doanh nghiệp trong và ngoài ngành ồ ạt nhảy vào mà không cần chờ địa phương tiếp thị. Mới đây, Công ty Phú Thạnh Mỹ đã khởi công thủy điện Sông Bung 4A với tổng vốn đầu tư 1.200 tỉ đồng. Tập đoàn Công nghiệp cao su VN cũng tham gia làm chủ đầu tư thủy điện Sông Côn 2. Bà Trần Thị Oanh, tổng giám đốc Công ty cổ phần Sông Côn, cho hay mới gần hai tháng phát điện nhưng thủy điện Sông Côn 2 đã đưa lên lưới hơn 60 triệu KWh. Với điện lượng hơn 210 triệu KWh/năm thì sau chín năm thủy điện Sông Côn 2 sẽ thu hồi 1.050 tỉ đồng đã đầu tư trước đó. Tương tự, Công ty xây dựng tổng hợp Trường Thịnh (một đơn vị tư nhân ở Quảng Bình) tham gia 308 tỉ đồng đầu tư thủy điện La Trọng (thượng nguồn sông Gianh). Tại Bắc Trà My (Quảng Nam), Công ty cơ khí áp lực Mạnh Nam đầu tư thủy điện Tà Vi. Trong khi đó tại huyện Phước Sơn, Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp VN làm chủ hai dự án thủy điện Đăk Mi 4 và Đăk Mi 4C. Qua huyện miền núi Nam Giang, Tổng công ty cổ phần Xây dựng điện VN làm chủ đầu tư các dự án thủy điện Đăc Pring, Sông Bung 4…Tổng công ty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi đầu tư thủy điện Đăk Mi 2, Công ty cổ phần Đạt Phương đầu tư thủy điện Sông Bung 6, Công ty cổ phần Hoàng Anh Quảng Nam thì thủy điện Sông Cùng hay Công ty cổ phần Xây dựng 699 là dự án Trà Linh 3 (Tuoitre Online, 2009b).

Có thể nói, việc các nhà đầu tư xây dựng thủy điện, nhất là thủy điện vừa và nhỏ lại thiên nhiều về mục tiêu phát điện mà không chú trọng đúng mức đến vận hành hồ thủy điện đảm bảo các mục tiêu như đã nêu ở trên khiến cho nguy cơ mất an toàn về mùa lũ, thiếu nước về mùa khô tại hạ du các lưu vực sông là rất cao (Trương Điện Thăng, 2009; Đăng Nam và Tấn Vũ, 2009). Như vậy bất cập trong quy hoạch và quản lý, trong quy trình thẩm định-phê duyệt-cấp phép cho các dự án thủy điện đang là câu hỏi lớn đặt ra cho các bộ ngành liên quan.

Đập thủy điện làm trầm trọng thêm tác động xã hội và môi trường của BĐKH thông qua góp phần làm biến đổi hệ sinh thái sông và HST ven biển

Về vấn đề phát triển thủy điện ở nước ta, lấy tỉnh Quảng Nam làm ví dụ, ông Marc Goichot, điều phối viên chương trình lưu vực sông của WWF đã nhận định “57 dự án là rất nhiều trong một khoảng thời gian ngắn đối với toàn bộ lưu vực sông. Chúng tôi vẫn chưa thể đo được một cách hoàn chỉnh khả năng phục hồi của hệ sinh thái này, vì vậy không biết chắc là những con sông này có thể chịu thêm bao nhiêu công trình nữa trước khi chúng mất đi tính nguyên trạng. Điều này có nghĩa là trước khi vượt ngưỡng, dòng sông sẽ trải qua những biến đổi nghiêm trọng và sẽ ảnh hưởng tới các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào những con sông này”. Theo ông, chính quyền cần phải chú ý tới những cảnh báo và phát triển năng lực thủy điện theo từng bước hợp lý, đồng thời phải kiểm tra những ảnh hưởng từ những dự án trước. Việc này liên quan tới việc quan sát xem hệ thống sông phản ứng ra sao đối với những dự án đang được thi công trước khi bắt đầu một dự án mới (Thanh Trung, 2008)

Đập thủy điện có thể làm thay đổi dòng chảy, chế độ thủy văn, và từ đó dẫn tới một loạt các thay đổi về hệ sinh thái và các tác động xã hội, môi trường khác, và như vậy có khả năng làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu. Ông Bùi Cách Tuyến, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã thể hiện sự lo ngại của mình về vấn đề mất dòng chảy sinh thái của sông “Lo ngại nhất đối với việc xây dựng nhiều công trình thủy điện trên cùng một lưu vực sông là việc ngăn nước của các nhà máy sẽ làm mất đi dòng chảy sinh thái của sông, ảnh hưởng đến hệ động thực vật xung quanh. Đến giờ tôi vẫn chưa được tiếp cận với một báo cáo tổng thể về việc ngăn nước trên các hệ thống sông làm thủy điện có làm mất đi dòng chảy sinh thái hay không” (Trương Điện Thăng, 2009).

Đập thủy điện có thể làm giảm khả năng tự làm sạch của sông, do đó làm tăng ô nhiễm môi trường sông và gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Chúng ta biết rằng Mỗi dòng sông, mỗi đoạn sông có một khả năng tự làm sạch khỏi những chất ô nhiễm thải vào nó (ISPONRE, 2009). Trong khi đó, khả năng tự làm sạch nguồn nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố: quan trọng nhất là lưu lượng của nguồn nước, mặt thoáng nguồn nước, độ sâu của nguồn nước, nhiệt độ (www.ctu.edu.vn). Như vậy, nếu theo nguyên tắc của một đập thủy điện là nó có nhiệm vụ giữ nước trong mùa mưa và xả nước trong mùa khô (nắng) để chạy các tua-bin sản xuất điện và khi đập thủy điện giữ nước trong mùa mưa thì nó có khả năng làm giảm mực nước lụt cũng như lưu lượng nước ở hạ lưu của nó (Mặc Lâm, 2008), người ta có thể suy luận ra tác động của đập thủy điện đến khả năng tự làm sạch của sông ra sao.

Đập Tam Hiệp (Trung Quốc) là một ví dụ điển hình cho thấy điều này. Sau khi Đập này tích nước, dòng chảy của nước bị chậm lại và khả năng tự làm sạch của nó bị giảm rất đi rất nhiều. Chất lượng nước trở nên kém hơn, đặc biệt ở các nhánh sông nơi mà trước đây chất lượng nước hoàn toàn rất tốt. Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi của dự án Đập Tam Hiệp, chất lượng nước ở vùng Tam Hiệp này được đánh giá là tốt nhất của Trung Quốc và đứng hàng thứ hai trong tất cả các đoạn sông. Nhưng hiện nay, chất lượng đã tụt xuống hàng thứ tư theo cùng một tiêu chí đánh giá. Kết quả là, các thành phố và huyện lị ở vùng Tam Hiệp không thể sử dụng nước hồ chứa làm nước uống và phải tìm kiếm nguồn khác (Wang Weiluo, 2006).

Sản xuất thủy điện có thể làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái của sông. Theo FWEE (2000), khi phù sa tích tụ ở hồ chứa thì hệ sinh thái sông có thể bị ảnh hưởng theo hai con đường. Thứ nhất, các điều kiện sinh cảnh ở hạ du có thể bị suy giảm do lượng phù sa không còn đủ để cung cấp các chất dinh dưỡng hữu cơ và vô cơ quan trọng cho các loài sinh vật. Thêm vào đó do một lượng lớn phù sa trong nước bị giữ lại khi chảy qua tua-bin, dẫn đến làm giảm lượng bồi lắng ở lòng sông và gây xói lở bờ sông. Vì các tua-bin không được mở thường xuyên, nên có thể thấy được sự dao động của dòng chảy là nhanh hoặc đều đặn ngày cũng như đêm. Ví dụ ở sông Grand Canyon (Colorado, Mỹ), sự thay đổi dòng chảy theo chu kỳ ngày đêm do con đậpGlenCanyongây ra được chỉ ra là  nhân tố góp phần vào làm xói lở bờ sông. Và các điều kiện được tạo ra trước đó có thể làm cho hàm lượng oxy hòa tan trong nước thay đổi. Nước sông khi qua các tua-bin thường lạnh hơn khi chưa có đập có thể làm thay đổi các quần thể thực vật thủy sinh, trong đó có các loài có nguy cơ bị tuyệt diệt (INFAO, 2009).

Thứ hai, khi phù sa lắng đọng ở đằng sau con đập, thì xảy ra một hiệu ứng gọi là “thừa mứa dinh dưỡng” có thể làm cho lượng ôxy cung cấp bị suy giảm. Đó là do lúc này lượng dinh dưỡng trở nên nhiều hơn, và nhiều sinh vật tập trung ở đó hơn để tiêu thụ nguồn dinh dưỡng dồi dào này, cũng có nghĩa là tiêu thụ nhiều ôxy hơn, nên gây ra hiện tượng suy giảm ôxy trong hồ chứa. Tương tự, cát sỏi cũng bị giữ lại giống như phù sa, nên trong trường hợp sự chuyển dịch của sỏi cuội về hạ du là một yếu tố tạo nên các bãi đẻ trứng cho cá thì có nghĩa là các điều kiện sinh cảnh quan trọng có thể bị tác động.

Theo đánh giá của các chuyên gia (Lê Anh Tuấn, 2009; Lưu Đức Hải, 2009), sự thay đổi chế độ dòng chảy trên sông có thể tạo ra một hình thái xói lở và bồi lấp mới ở hạ lưu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng một phần ổn định bờ sông và hệ sinh thái hai bên bờ sông. Marc Goichot, điều phối viên chương trình lưu vực sông của WWF khẳng định “Các con sông là rất cần thiết trong việc bảo vệ các cộng đồng vùng ven biển bằng việc tích tụ phù sa dọc bờ biển, và thủy điện có thể sẽ giảm dòng chảy của phù sa” (Thanh Trung, 2008).

Ví dụ minh họa có thể thấy qua số liệu đo đạc từ năm 1993 – 2000 tại Chiang Saen (bắc Thái Lan), hàm lượng phù sa luân chuyển giảm 56%, còn tại vùng ĐBSCL, lượng phù sa có thể giảm từ 70 – 80% do tác động của các đập thuỷ điện phía Trung Quốc. Các cù lao ở ĐBSCL đang bị sạt lở nghiêm trọng do thiếu phù sa bồi bổ….và rồi ”cồn đất, cù lao rồi sẽ không còn màu mỡ, vẹn nguyên bởi sạt lở, xói mòn đang diễn ra hàng ngày và sẽ còn nghiêm trọng hơn nữa khi dòng Mêkông chịu tác động thô bạo từ phía thượng nguồn” (Lao Động, 2009). Viện nghiên cứu ĐBSCL cũng cho biết, hai năm nay do ảnh hưởng của xâm nhập mặn và tốc độ dòng chảy đã làm cho tốc độ bồi lắng của dòng sông ở các cửa biển nhanh hơn (Nhật Hồ, 2009). Đóng góp ý kiến trong bài báo của tác giả này, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho rằng nếu sông Mêkông bị tác động mạnh cộng với biến đổi khí hậu, mà cụ thể là nước biển dâng tình trạng xâm nhập mặn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các tỉnh hạ nguồn của dòng sông này. Ông cũng cảnh báo, hiện nay các nước thượng nguồn sông Mêkông đã có xu hướng tích nước để sản xuất nông nghiệp, làm thủy điện nên nguy cơ thiếu nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp của ĐBSCL sẽ diễn ra trong vài chục năm nữa. Tốc độ bồi lắng ngày càng tăng. Nước biển vào sâu trong đất liền. Phù sa ít dần. Đây không còn là lời cảnh báo nữa, mà đã trở thành nguy cơ thực sự .

Các tỉnh duyên hải vùng Đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, nước mặn đang tràn sâu vào đất liền. Hiện tượng này khiến nhiều người nhìn ngược lên các con đập ở phía thượng nguồn sông Mêkông, phía các hồ chứa ở Vân Nam, Trung Quốc, nơi mà các số liệu kỹ thuật về qui mô khai thác và ảnh hưởng của nó vẫn còn là những thông tin mơ hồ ngay cả những quốc gia liên quan dọc theo sông Mêkông như Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam (Lê Anh Tuấn, 2009).

Như đã đề cập ở trên, xây dựng đập trên dòng chính sông sẽ dẫn tới việc lắng đọng phần lớn phù sa trong lòng hồ mới hình thành, dẫn đến giảm lượng chất dinh dưỡng bổ sung cho đồng bằng châu thổ, và lượng trầm tích ven biển. Hậu quả là độ phì của đất ngập nước bị suy giảm. Một số vùng ven biển như rừng ngập mặn thiếu trầm tích bổ sung có thể bị xói lở và tiếp tục bị thu hẹp diện tích. Ngoài ra, như MAP (2009) đã cảnh báo, tăng độ mặn do thiếu nước ngọt đưa ra cửa sông cũng đe dọa rừng ngập mặn. Trong khi đó, như chúng ta đã biết nhiều dạng đất ngập nước góp phần rất lớn trong việc tạo nên sức bền của xã hội trước các tác động khác nhau của BĐKH. Đầm lầy và sông hồ chứa nhiều nước hơn bất kỳ hệ sinh thái nào khác, ngày càng trở nên vô cùng quan trọng vì chúng có thể chứa lượng nước dư thừa do hiện tượng hóa hơi cực đoan khó đoán trước hay băng tan. Theo GS. Phan Nguyên Hồng – người có 40 năm nghiên cứu về RNM và được coi là một chuyên gia hàng đầu châu Á về lĩnh vực này, và nhiều chuyên gia khác, RNM có nhiều tác dụng trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong việc ứng phó với BĐKH và nước biển dâng vì chúng có thể hạn chế mực nước biển dâng bằng việc tích tụ trầm tích và có thể ngăn xói lở bờ biển, đồng thời còn là những bể chứa CO2 quan trọng. Nhờ những đặc trưng riêng như tầng tán dày, hệ thống rễ chằng chịt, RNM được đánh giá là một bức tường xanh vững chắc chống gió bão, sóng thần, xói lở, làm sạch môi trường ven biển, hạn chế xâm nhập mặn, bảo vệ nước ngầm, tích lũy cacbon, giảm khí CO2 (VFEJ, 2009).

Tuy nhiên, trong khi nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách xây dựng đập, hồ chứa và đê để kiểm soát dòng chảy các con sông thì nhiều quốc gia lại không chú ý tới những tác động kèm theo lên các cộng đồng và hệ sinh thái dễ bị tổn thương này. Những tiếp cận không hợp lý này có thể làm mất nhiều diện tích đất ngập nước và các dịch vụ của nó (Wetland International, 2008). Và cuối cùng, quan trọng hơn cả là những cộng đồng dân cư ven biển là đối tượng sẽ chịu tác động trước tiên của biến đổi khí hậu thì khi mất đi nguồn hỗ trợ sự sống là tài nguyên và các dịch vụ của hệ sinh thái đất ngập nước của hệ sinh thái lại càng trở nên dễ bị tổn thương hơn. Hay nói cách khác nó làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu lên các cộng đồng dân cư ở các vùng sinh thái nhạy cảm này.

Các dự án thủy điện lớn có thể làm nhiễu loạn các hệ sinh thái ngập nước xung quanh. Trường hợp nghiên cứu các đập thủy điện chạy dọc vùng ven biển Thái Bình Dương và Atlantic ở Bắc Mỹ đã chứng minh về tác động của chúng trong việc làm giảm số lượng quần thể cá hồi vì cản trở đường đẻ trứng trên thượng nguồn của loài này, mặc dù hầu hết các đập đó đều thiết kế các bậc thang cho cá nhảy, và đường trở về ra biển bị ngăn cản bởi các tua-bin. Ngoài ra, một số đập thủy điện thường dùng kênh để lái dòng sông ở nơi có mực nước nông để nâng cao trình, và có những trường hợp để lại hậu quả là toàn bộ dòng sông có thể bị biến thành “sông chết” khi không còn nước chảy vào, như sông Tekapo Pukaki (Niu Di Lân) (INFAO, 2009).

Đập thủy điện cũng đang gây tác động mạnh đến các khu bảo tồn thiên nhiên, như Vườn quốc gia Cát Tiên (Khắc Dũng, 2009) và Khu bảo tồn Thiên nhiên Đa Krông (Lê Đức Dục và Ngọc Uyên, 2009). Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ không bàn luận sâu thêm.

Ngoài ra, tác động của đập thủy điện đến các cộng đồng dân cư cũng không hề nhỏ. Chúng ta đều biết nhu cầu cho việc tái định cư của người dân vùng lòng hồ thường được lên kế hoạch, nhưng trong nhiều trường hợp mức đền bù còn xa mới thỏa đáng so với sự mất mát về văn hóa truyền thống chứa đựng các giá trị tinh thần to lớn đối với họ. Đó là còn chưa kể đến những tổn thất về văn hóa và lịch sử ở những vùng được sử dụng để xây đập như trường hợp Đập Tam Hiệp ở Trung Quốc, Đập Clyde ở Niu Dilân và Đập Inlisu ở miền Đông Nam thổ Nhĩ Kỳ.

Trường hợp của Việt Nam, hàng trăm công trình thủy điện lớn nhỏ đã và được xây dựng ở miền Trung – Tây Nguyên không chỉ tàn phá rừng núi, xâm hại môi sinh như đã biết, mà đồng thời đang góp phần hủy hoại triệt để bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số bằng các khu tái định cư. Mất văn hóa cũng đồng nghĩa với mất đi một phần sức bền xã hội, hay nói cách khác làm giảm sức bền của cộng đồng trong việc ứng phó với những biến cố bất thường, trong đó phải kể đến những tác động ngày càng gia tăng của BĐKH. Tái định cư cho miền núi chính là điều kiện tốt nhất cải thiện đời sống kinh tế, đồng thời góp sức làm nhiệm vụ trên. Thế nhưng sự thiếu ý thức của chủ đầu tư ngành điện, kết hợp với ý chí muốn “tiến cho kịp miền xuôi” theo nghĩa đơn giản của chính quyền các địa phương miền núi đã làm biến dạng cấu trúc của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số. Đối với sự thiệt hại về kinh tế có thể làm lại được, nhưng sự mất mát các giá trị văn hóa thì vô phương khôi phục, hoặc có cố làm lại thì cũng chỉ là thứ văn hóa giả, đơn cử trường hợp các làng tái định cư A Vương, Sông Tranh 2, 3, Đắc My…ở Quảng Nam làm ví dụ (Laodong Online, 2009).

Kết luận

Phát triển các đập thủy điện, nhất  là khi trở nên ồ ạt và thiếu quy hoạch, quản lý phù hợp có thể làm trầm trọng thêm mức độ tác động của BĐKH. Thủy điện góp phần đáng kể làm tăng phát thải khí nhà kính quan trọng là mêtan và đi-ô-xít các-bon, vì vậy quan niệm về thủy điện như một “nguồn năng lượng sạch” và “rẻ” cần phải được thay đổi và phổ biến rộng rãi để nâng cao nhận thức của người dân cũng như các nhà quản lý về các tác động tiêu cực của đập thủy điện trong đó có các tác động liên quan đến biến đổi khí hậu. Thủy điện có thể làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu một khi lạm dụng, vượt quá sức chịu tải của thiên nhiên – là các con sông và hệ sinh thái đi kèm. Thông qua việc làm thay đổi dòng chảy sinh thái của các con sông dẫn đến làm thay đổi các hệ sinh thái, đe dọa mất đa dạng sinh học, nguy cơ nhiễm mặn, làm mất các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển trong đó có rừng ngập mặn, tấm lá chắn bão và bể chứa CO2 quan trọng, làm tăng nguy cơ nước biển dâng…và cuối cùng là các cộng đồng dễ bị tác động của biến đổi khí hậu lại càng dễ bị tổn thương hơn.

Việc phân tích các tác động tiêu cực của đập thủy điện từ những kinh nghiệm quốc tế cũng như trong nước ở trên không có nghĩa là phản đối việc phát triển nguồn năng lượng thủy điện của Việt Nam khi mà trong giai đoạn hiện nay nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất ở nước ta còn chưa được đáp ứng đủ, mà nguồn năng lượng sạch thay thế còn chưa sẵn sàng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển thủy điện như thế nào để có thể đảm bảo được rằng những tiêu cực do đập thủy điện gây ra không vượt quá mức độ mà trong chiến lược về thủy điện của quốc gia quy định cũng đáng để các nhà quy hoạch và quản lý quan tâm và cân nhắc kỹ lưỡng.

Soạn thảo một chiến lược phát triển thủy điện bền vững ở mức độ quốc qia, vì vậy, là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết. Chiến lược này theo chúng tôi, cần tuân thủ 7 nguyên tắc chiến lược mà Ủy hội Đập Thế giới đã đưa ra, đó là: (1) Cần có sự chấp nhận của công chúng; (2) Cần đánh giá toàn diện các phương án khác nhau có thể; (3) Đánh giá về tác động của các đập hiện có; (4) Bảo đảm bền vững cho con sông và sinh kế cho người dân; (5) Công nhận quyền và chia sẻ lợi ích; (6) Đảm bảo tuân thủ (pháp lý quốc tế, khu vực, quốc gia, quy trình…); và (7) Sử dụng các sông vì mục đích hòa bình, phát triển và an ninh.

Trên cơ sở nhận thức được rõ ràng những cái được và cái mất từ các dự án thủy điện, các nhà hoạch định và quản lý cũng nên tính đến khả năng loại bỏ bớt những đập thủy điện đã, đang hoặc sẽ không đảm bảo chức năng của nó giống như một số nước đã tiến hành trước khi quá muộn.

 

 


Summary

By reviewing negative impacts of the hydroelectric dam in relation to the impacts of climate change toVietnam, this paper tries to make a better understanding of how this economic activity can increase or even make the impacts of climate change more severely.

With synthesized and analyzed practical evident on the impacts of the dams, that are linked to the climate change’s effects from international and national literatures, the paper has revealed that these dam-induced impacts are presented in different ways, ecologically and socially. They are including an increase of green-house gas emission, and a threat to the river ecosystems, especially to the coastal wetlands, which enhances the threat of sea level rising and natural disaster, such as storms and floods. These, consequently, can make the effects of climate change more severely on the local communities, who depends on these ecosystems, and are vulnerable to natural risks.

Lack of well planning and inappropriateness of governance have been found as factors enabling the negative impacts of the dams. To mitigate these impacts, the paper makes some suggestions to decision makers and planners that a national strategy for sustainable hydroelectricity development should be an urgent need, and an option of erasing mal-functioned hydroelectric dam projects should be taken into account as soon as possible.

Tài liệu tham khảo

AlwaysGreen, 2009. Hydroelectric power may potentially realease more methane than fossil fuels.GreenHarbor.

Bộ công nghiệp, 2004. Dự thảo chính sách năng lượng quốc gia, vietbao.vn/…chinh-sach…gia…/87/

Bộ Tài nguyên Môi trường, 2008. Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Biến đổi Khí hậu, http://www.ngocentre.org.vn/files/docs/NTP_Vietnamese.pdf

Chính phủ Việt Nam, 2004. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010, định hướng đến năm 2020, Số: 176/2004/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 10 năm 2004.

Đăng Namvà Tấn Vũ, 2009. “Lũ gỗ” ở Quảng Nam: Thủ phạm là lâm tặc và thủy điện. Tuoitre Online 12/10/2009, http://www.tuoitre.com.vn.

Environmental New Service, 2007. Methane From Dams: Greenhouse Gas to Power Source. www.ens-newswire.com/…/2007-05-09-04.asp

FWEE (Foundation for Water & Energy Education), 2000. How a Hydroelectric Can Affect a River. www.fwee.org/hpar.html

Graham-Rowe D., 2005. Hydroelectric power’s dirty secret revealed, http://www.newscientist.com/…/dn7046

Hồ Ngọc Phú, 2009. Thời sự & suy nghĩ: Chống lũ hay phát điện? Tuoitre Online 12/10/2009, http://www.Tuoitre.com.vn

IEA Bioenergy Task 38. Answer to 10 frequently asked questions about bioenergy, carbon sink, and their role in global climate change. http://www.ieabioenergy-task38.org/publications/faq/task38faq.pdf

INFAO, 2009. Hydroelectricity. Article ID: 381399, infao5501.ag5.mpi-sb.mpg.de:8080/…/archive?..2009.

International River Network, 1998. Bruce Babbitt Takes a Sledgehammer to US Dams – Secretary of the Interior’s Dam-Busting Tour Sets Tone for New Era for US Rivers.InternationalRiver Network Vol. 13, No 4 August 1998.

ISPONRE, 2009. Dòng sông và phát triển lãnh thổ, isponre.gov.vn/…/390-dong-song-va-phat-trien-lanh-tho

Khắc Dũng, 2009. Vườn Quốc gia Cát Tiên bị đe dọa bởi thủy điện. Lao Động số 254 Ngày 09/11/2009)

Laodong Online, 2009. Các khu tái định cư thủy điện A Vương: dân  bỏ làng, tứ tán. Lao Động điện tử số 250 ngày 04/11/2009.

Lê Anh Tuấn, 2009. Các đập nước và hồ chứa ở thượng nguồn: có hay không nguy cơ môi sinh tiềm ẩn cho hạ nguồn sông MêKông, http://www.vncold.vn/…/Content.aspx?…

Lê Diên Dực, 1996. Xây dựng chiến lược bảo vệ đất ngập nước nội địa ở Việt Nam, thuộc đề tài “Xây dựng chiến lược quản lý và bảo vệ đất ngập nước giai đoạn 1996-2020”, GS.TS. Phan Nguyên Hồng (chủ nhiệm). Cục Môi trường – Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Hà Nội.

Lê Đức Dục và Ngọc Uyên, 2009. Thủy điện lọt vô khu bảo tồn. Tuổi Trẻ Online ngày 9/11/2009.

Linh Hương, 2009. Khai phá miền Tây: Trí thức Trung Quốc lên tiếng, www.toquoc.gov.vn ngày 15/10/2009.

Lưu Đức Hải, 2009. Các nguy cơ môi trường và bảo vệ tài nguyên vùng hạ lưu từ các dự án thủy điện trên sông Mekong. Báo cáo trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Xúc tiến bảo tồn trong bối cảnh xã hội”, Hạ Long tháng 1/2009. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội: tr.117-124.

Mặc Lâm, 2008. Mối nguy từ các đập thủy điện của Trung Quốc trên đầu nguồn sông Mekong. RFA 3/9/2008.

Mai Linh, 2008. Biến đổi khí hậu toàn cầu: Nỗi sợ và hy vọng. VietnamNet 21/4/2008, www2.vietnamnet.vn/khoahoc/2008/04/779396/

MAP, 2005. Wetland erosion raises hurricane risk. By Bob Sullivan, Technology correspondent MSNBC trong MAP edition 11/9/2005.

Mongabay, 2007. Carbon offset returns beat forest conversion for agriculture in Indonesia. News.mongabay.com/2007/1108-palm_oil.html.

Nhật Hồ, 2009. Thương những hạt phù sa. Lao Động số 218 ngày 28/09/2009.

TChí ĐVN, 2007. Vai trò của thủy điện trong tương lai ở nước tawww.bkeps.com/…/vai-tro-cua-thuy-dien-trong-tuong-lai-o-nuoc-ta.html

Thanh Hải, 2009. Không vì thuỷ điện mà “giết” sông Vu Gia. Lao động số 128 ngày 11/6/2009.  

Thanh Trung, 2008. Phát triển thủy điện ồ ạt: hệ quả khó lường!. Thời báo Kinh tế Sài gòn Online, www.thesaigontimes.vn/…/4586/

Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 2009. Nguy cơ từ các nhà máy thủy điện trên sông Mekong. Thời báo Kinh tế Sài Gòn 06/06/2009, ww.vntrades.com/…/modules.php?…

Trương Điện Thăng, 2009. Phát triển thủy điện miền Trung: Được gì, mất gì? Thanh Nien Online 23/10/2009, http://www.thanhnien.com.vn/…/20091023001316.aspx

Tuoitre Online, 2009a. Đánh cược với thiên nhiên – Kỳ cuối. Thủy điện – chuyện xứ người. Tuoitre Online 25/10/2009,  home.vnn.vn/danh_cuoc_voi_thien_nhien___ky_cuoi__thuy_dien___chuye…, www.tuoitre.com.vn.

Tuoitre Online, 2009b. Đánh cược với thiên nhiên – Kỳ 1: Chi chít thủy điện ở miền Trung. Tuoitre Onine 22/10/2009, http://www.tuoitre.com.vn.

Tuyết Hồng, 2007. Trích khí metan từ đập thủy điện, http://www.khoahoc.com.vn/…/15700_Trich_khi_metan_tu_dap_thuy_dien.aspx

VFEJ, 2009. Phá rừng ngập mặn, trả giá rất đắt. Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam 06/05/2009, www.vfej.vn/…/pha_rung_ngap_man__tra_gia_rat_dat

VietnamNet, 2009. Phó Thủy tướng Hoàng Trung Hải : ‘Lũ lớn không liên quan đến thủy điện’. VietnamNet ngày 9/11/2009.

VISTA, 2009. Tổng luận “Tác động của Biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dân cao nước biển”, Trung tâm thông tin KH-CN Quốc gia, Vst.vista.gov.vn

Vũ Đức Khánh, 2009. Tình hình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên, www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=3115

Wang Weiluo, 2006. Three Gorges Dam Project is Like ‘the Emperor’s New Clothes’. Democratic China, http://www.theepochtimes.com/…/46569.html

Wetland International Annual Review, 2008.  Wetlands for adapting to climate change.

www.ctu.edu.vn/…/wastewaeterselfpur.htm. Quá trình tự làm sạch các nguồn nước.

 

Advertisements

Bình luận đã được đóng.