HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Một số khía cạnh về Văn hóa của đất ngập nước

Khái niệm về văn hoá

Toàn cảnh của suối cá Thần tại xã Cẩm Lương, Huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

Theo tác giả Trương Thanh Huyền và CS (2005)  thìCó rất nhiều cách hiểu cũng như các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Nói văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người. Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhìn chung, các nền kinh tế, các công trình về khoa học, kỹ thuật ít mang dấu ấn riêng bằng công trình văn hoá.

Theo A. Kroeber và Kluckhohn (Mỹ), có trên 200 định nghĩa về văn hoá. Federico Mayor – Tổng giám đốc UNESCO xem văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhà văn hoá vĩ đại của dân tộc đã cho rằng văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

GS. Trần Ngọc Thêm (2004) đưa ra khái niệm văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Năm 2002, Hội nghị các nước thành viên lần thứ 8 (COP 8) của công ước Ramsar tại Valencia, Tây Ban Nha đã chọn chủ đề “ĐNN – Nước, Cuộc sống và Văn hóa” làm nội dung chính của chương trình nghị sự và khuyến khích các quốc gia thành viên tích cực nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh văn hóa của ĐNN, góp phần hữu hiệu cho bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN.

Cũng theo công ước Ramsar (COP 8 năm 2002) thì: ĐNN cung cấp những tài nguyên quý giá và nơi sinh sống cho con người và rất nhiều sinh vật khác ngay từ thuở ban sơ của con người trên trái đất. Những nền văn minh vĩ đại đã được thiết lập bên bờ của những vùng ĐNN (sông, hồ, biển) và phụ thuộc vào tài nguyên của chúng đặc biệt là nguồn nước. Những vùng định cư của con người bao gồm những thành phố lớn như Amsterdam, Băng Kôk, Tunice, Venice được xây dựng trực tiếp trong vùng ĐNN hay ngay bên cạnh chúng.

Ví dụ điển hình: Sông Nile và Ai Cập cổ  đại

Không có gì mô tả quan hệ giữa nước, đất ngập nước và sự tồn tại của con người bằng trường hợp của con sông Nile và Ai cập cổ đại. Những chi nhánh của sông Nile và dòng chảy của nó đã quyết định vận mệnh và số phận của nền văn minh đồ sộ đã từng phát triển trong khu vực và để lại dấu ấn đậm nét.

Trong thời kỳ lũ sông Nile đã làm ngập vùng đất đen dọc theo hai bờ sông Nile tạo điều kiện tốt cho việc trồng cấy lúa mì và lúa mạch trong tháng 9 và thu hoạch vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau và rồi lại đến mùa hè khô hạn và chu kỳ duy trì sự sống lại được lặp lại.

Tuy nhiên thời tiết thay đổi làm dòng chảy sông giảm đáng kể và chỉ làm lụt được một phần nhỏ của đát canh tác và nạn đói nghiêm trọng đã sảy ra là không tránh khỏi. Điều này làm giảm quyền lực của nhà vua và lộn xộn về chính trị đã sảy ra.. Đế chế Ai cập cổ đại đã sụp đỏ vào năm 2160 trước công nguyên. Hiện tượng này cũng đã được lặp lại trong những thời kỳ lịch sử gần đây. (Phần này để trong hộp)

Bệnh sốt rét lan tràn trên nhiều vùng ĐNN trở thành yếu tố tiêu cực làm cho nhiều người phải từ bỏ những vùng này. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thoát nước những vùng này cho đến khi tìm được ký ninh trừ vi trùng sốt rét từ muỗi Anopheles.

Từ đó con người đã khai thác hầu hết các vùng ĐNN một cách mạnh mẽ. Trong thế kỷ 20 những hoạt động truyền thống trong vùng ĐNN trước đây đã bị lãng quên. Tầm quan trọng của chúng về cơ sở tài nguyên cần thiết cho sự tồn tại của con người cũng đã bị giảm sút. Còn nhiều giá trị khác của ĐNN đối với con người đã bắt đầu được nhận thức và đánh giá cao trong những năm gần đây. Đó là điều hòa chế độ thuỷ văn, chống lụt và hạn, nạp nước ngầm, giữ chất dinh dưỡng và loại chất thải, bảo vệ bờ, cơ hội cho giáo dục và giải trí

Ví dụ điển hình: Hồ Tông lê Sáp ở Cambodia

Trong mùa lụt hồ Tông lê sap được nuôi dưỡng  bằng nước chảy tràn của sông Mê Kông làm cho độ lớn của hồ tăng lên 6 lần chiếm một diện tích hơn 16.000 km2 do đó nó tích nước lũ và sả nước ra từ từ. Là một thủy vực nước ngọt lớn nhất châu á, Tông lê sap là nơi quần tụ của những cộng đồng ngư dân sống trong những nhà sàn gỗ (ví dụ làng Chhnok Trou). Đồng thời họ cũng sử dụng rộng rãi lau sậy vào  sinh hoạt và những thuyền đánh cá cổ truyền.

Tuy nhiên tình trạng đã thay đổi rất nhanh và sâu sắc. Di cư nội bộ và dân số tăng nhanh đã tạo một sức ép lớn lên hồ và tàn phá hầu hết những kiến trúc địa phương. Ô nhiếm hồ tăng lên do sinh hoạt cũng như canh tác. Rừng bị phá hủy làm tăng phù sa san lấp nơi đẻ của cá. Hơn nữa những đập được dựng lên ở thượng nguồn làm giảm lượng nước chảy vào hồ. Đánh cá quá mức và bằng những phương thức hủy diệt lan tràn mọi nơi. Kết quả là lượng cá đánh bắt được giảm đáng kể, lượng cá này đã từng cung cấp khoảng 60% lượng prô tê in cho dân Căm pu chia. Đồng thời nền văn hóa địa phương giàu có của ngư dân cũng mai một rất nhanh.

Chính phủ Căm pu chia đã có những sáng kiến mới để đối mặt với tình trạng tại hồ Tông lê sap nhưng phải cần những  biện pháp mạnh hơn và kiên trì hơn mới mong đảo ngược được tình trạng khó khăn hiện nay.

Ngay từ thở ban sơ của con người; nước, không khí và thực phẩm được coi là tối quan trọng đối với sự tồn tại của con người. Sau khi chuyển từ săn bắn, hái lượm sang nông nghiệp, nước là một tiền đề quan trọng cho sản xuất lương thực. Mức độ phong phú của nước là cơ sở cho những nền văn minh vĩ đại như sông Nile đối với nguời Ai Cập, sông Euphrate và Tigris đối với người Mesopotami. Những thời kỳ hạn hán cũng làm giảm sút sức mạnh của những xã hội  nói trên. Nước cũng được những tôn giáo coi là linh thiêng và do đó ĐNN là nguồn nước quan trọng nên cũng được coi trọng.

ĐNN là những hệ sinh thái rất đa dạng từ những con sông và hồ lớn đến ốc đảo của các sa mạc, từ những hồ nước trên núi Alpe đến những đầm phá ven biển, từ những dòng nước ngầm dưới núi đá vôi đến đến vùng bờ biển với 6m nước  khi triều thấp. Tuy nhiên chúng có những điểm tương đồng về những chức năng cũng như phong phú của hệ động, thực vật của những vùng này. Khi mà giá trị văn hoá và những giá trị xã hội khác của ĐNN được nhấn mạnh trong những năm gần đây cũng làm cho tính đa dạng của ĐNN tăng lên.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực về bảo tồn và sử dụng khôn khéo, ĐNN vẫn tiếp tục bị huỷ hoại ở khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên ở một số nơi do đánh giá được giá trị của ĐNN nên đã có những dự án lớn nhằm hồi phục những ĐNN đã bị mất hoặc giảm sút nghiêm trọng với giá rất đắt. Trong thực tế cho thấy là không thể hồi phục ĐNN một khi giá trị văn hoá và lịch sử của chúng đã bị mất. Những giá trị này sẽ bị mất trong một vài thế hệ sau khi ĐNN đã bị huỷ hoại. Do đó khi mất ĐNN không phải chỉ mất nguồn tài nguyên quan trọng mà còn gây nhiều tổn thất quan trọng khác cho cộng đồng địa phương.

Ví dụ điển hình: Trường hợp hồ Carla ở Hy Lạp thuộc Địa Trung Hải.

Khu vực Thessala phì nhiêu ở trung tâm Hy Lạp phụ thuộc vào nước của vùng 7 hồ từ đầu thế kỷ 20 nhưng không còn là ngày hôm nay. Hồ Carla là hồ lớn nhất là một vùng đất ngập nước quan trọng của vùng Địa Trung Hải cho nghề cá và chim di cư đã bị thoát nước vào những năm 60 để làm nông nghiệp. Kết quả là một cộng đồng địa phương phụ thuộc vào nghề cá trên hồ đã bị phá hủy và những hoạt động mang tính truyền thống của địa phương cũng bị biến mất do một số cư dân địa phương đã chuyển lên  thành phố, một số còn lại gắng canh tác trên đất đã bị thoát nước.

Mối quan tâm đến giá trị văn hoá của ĐNN và nước đến gần đây vẫn còn rất hạn chế trong một số các nhà Khảo cổ học và Nhân chủng học. Mãi đến tháng 4 năm 2000 Uỷ ban ĐNN của Địa Trung Hải họp tại Djerba , Tunisia mới quyết định đưa giá trị văn hoá của ĐNN vào sử dụng bền vững ĐNN của vùng Địa Trung Hải. Rồi đến “Đồng muối Địa Trung Hải: Di sản văn hoá và Tính bền vững”. Ngày ĐNN quốc tế năm 2002 (2/2) tập trung vào chủ đề: Giá trị văn hoá của ĐNN và đến hội nghị các nước thành viên lần thứ 8 (COP 8) của công ước Ramsar tại Valencia Tây Ban Nha mới lấy tiêu đề chung là “ĐNN – Nước, Cuộc sống và Văn hoá” và trong chương trình nghị sự của phiên họp thứ 5 (Session 5) của hội nghị này có chủ đề “Các khía cạnh văn hoá của ĐNN là công cụ cho bảo tồn và sử dụng bền vững chúng”.

Những giá trị văn hoá của ĐNN

– Vật chứng của cổ sinh vật và khảo cổ học trong vùng ĐNN

– Cảnh quan nông nghiệp và văn hoá và các hệ sinh thái sản xuất khác: Đồng lúa (bằng phẳng hay bậc thang), đồng muối, đầm phá, vùng cửa sông gắn với khai thác thuỷ sản

– Những kiến trúc lịch sử: Lâu đài, điểm định cư, công trình thuỷ lợi, cối xay nước, cọn (xe nước), hệ giao thông thuỷ (Tàu, thuyền, cầu, đường) trong vùng ĐNN

– Hệ quản lý tập thể về sử dụng đất và nước.

– Kiến thức truyền thống trong khai thác tài nguyên ĐNN: Muối, lúa, thuỷ sản, lau sậy v.v…

– Ngôn ngữ, luật tục, cấu trúc chính trị, chức năng và tập quán bao gồm truyền miệng lưu giữ trong trí nhớ của những người địa phương.

– Tri thức truyền thống trong y học: Thuốc truyền thống, cây thuốc của đồng bào thiểu số

– Thần thoại học, tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm những nơi linh thiêng và các nghi thức

– Nghệ thuật: tranh vẽ, trạm khắc trên đá, gỗ, thủ công mỹ nghệ, âm nhạc, vũ điệu, thơ ca, hò vè và lễ hội v.v…

Một số nét khái quát về văn hóa đất ngập nước tại Việt Nam

Về văn hoá lúa nước ở khu vực Bắc Bộ

Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ ViệtNamtừ thời Đồ đá cũ (300.000 -500.000 năm). Dân tộc Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trên vùng châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Con người từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã khai hoá đất để trồng trọt. Họ đã tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm. Quá trình lao động không ngừng để chế ngự nước – chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa – đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hoá làng xã.

Cư dân Việt cổ thời đại Đông Sơn (2000 năm trước) cư trú chủ yếu trên ba dòng sông lớn đó là: sông Hồng, sông Mã và sông Cả (sông Lam). Họ thường lập làng trên những gò đất cao bên dòng sông, một số ít cư trú ở đồng bằng và một bộ phận sống rải rác ở vùng trước núi gần nguồn nước.

Những cư dân Đông Sơn đã dựa vào nguồn thực vật và thuỷ sản phong phú ngay trên địa bàn mình cư trú để làm thức ăn, đồ nếp là nguồn thức ăn chính mà họ ưa thích. Phương tiện giao thông đi lại chủ yếu là dùng thuyền mà khởi nguồn là những cây tre được ghép lại, là cây gỗ được khoét rỗng thành thuyền độc mộc và sau này là những chiếc thuyền được chế tác khá hoàn hảo tiện lợi như hình vẽ in trên mặt trống đồng.

Lại một lần nữa cho thấy rằng con người từ thuở sơ khai đã định cư tại những vùng đất ngập nước quan trọng đặc biệt là các lưu vực sông lớn.

Đất ngập nước là nền tảng, là cảm hứng cho văn học nghệ thuật

Đất ngập nước tại khu vực Bắc Bộ nói riêng và trên toàn Việt nam nói riêng là nền tảng cho nền văn học nghệ thuật từ dân gian đến hiện đại.

Hình ảnh con thuyền và sông nước đã ăn sâu vào tâm khảm đến mức mọi mặt sinh hoạt của đời sống con người đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực và đối tượng so sánh trong hàng loạt cách nói dân gian (Trần Ngọc Thêm, 2004). Có thể lấy ví dụ từ kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ xưa như: chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo, chết trong còn hơn sống đục, ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau, bồi ở, lở đi, thuyền theo lái, gái theo chồng,…

Theo tác giả Phạm Bình Quyền (2002), ĐNN và các tài nguyên hệ sinh thái ĐNN là nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ. Lấy ví dụ điển hình là hoa sen (thấy nhiều trong các chạm khắc ở đền, chùa, trong các điệu múa, bài ca dao và gần đây nhất, hoa sen được lấy làm biểu tượng của hàng không ViệtNam). Hoặc chim Hạc (sếu), rồng là một trong  bốn loài sinh vật quý có ý nghĩa, có đời sống liên quan đến ĐNN, là biểu tượng, là vật thờ thiêng liêng.

Cũng chính từ các vùng đất ngập nước như ao, ruộng lúa, khu vực Bắc Bộ đã xuất hiện Rối nước, một loại hình sân khấu đặc sắc phổ biến từ thời Lý. Đây là nền nghệ thuật của những người nông dân quen với ngâm bùn lội nước trồng nên cây lúa (Trần Ngọc Thêm, 2004). Trên mặt ao dựng nên một ngôi nhà nhỏ gọi là thuỷ đình; thuỷ đình thường có 2 tầng, phía trước có màn che. Hiện nay, tại tỉnh Hà Tây vẫn còn nguyên một nhà hát rối nước được xây dựng từ thời Lê ở hồ Long Trì, trước cửa chùa Thầy.

Lễ hội đả ngư (đánh cá), lễ hội truyền thống của vùng non Tản, được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích.

. Hội đánh cá làng Me (Hà Tây)

Làng Me, xã Tích Giang (Phúc Thọ) thường mở hội làng từ ngày 2 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Bên cạnh phần lễ, phần hội của hội làng Me có nhiều trò chơi dân gian, đặc sắc hơn cả là cuộc thi đánh cá vào ngày mồng 4.

Lễ hội bơi Đăm

Từ bao đời nay câu ca “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thàỵ…” đã in đậm trong tâm trí mỗi người dân trong vùng và cả nước, bởi nó mang một đặc điểm riêng biệt độc đáo. Rất nhiều hội làng có bơi chải, nhưng phần lớn thuần tuý là trò đua tài, giải trí, còn ở hội Đăm bơi chải là mô phỏng cách đánh giặc bằng thuỷ quân của danh tướng Bạch Hạc Tam Giang Đào Trường từ thời vua Hùng Huệ Vương (Hùng Vương thứ 16). Khi giặc phương Bắc xâm lược nước Văn Lang, Hùng Duệ Vương vời thổ lệnh Đào Trường bàn kế đánh giặc, ông tâu rằng “nên đón đường thuỷ mà đánh”. Nhà vua giao cho ông thống lĩnh thuỷ quân, chỉ một trận đã dẹp tan giặc.

Lễ rước nước trên sông Hồng

Hằng năm, từ ngày 10 đến 12-2 âm lịch, nhiều xã ven sông Hồng thuộc huyện Châu Giang (Hưng Yên) đều tổ chức lễ rước nước, trong đó lớn nhất phải kể đến lễ rước nước của xã Dạ Trạch và Bình Minh với hàng nghìn người tham dự. Từng đoàn thuyền bơi từ xã sang bãi Tự Nhiên, nơi xưa kia chàng trai nghèo Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung lần đầu gặp gỡ, rồi quây thành vòng tròn ở giữa sông để lấy nước đổ vào chóe, dùng làm nước thờ cả năm.

Bơi chải

Hằng năm, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, làng Tào Xá, huyện Tam Thanh, Phú Thọ có tục bơi chải, từ trước cửa đền ở bờ ra giữa đầm lớn (nối sông Hồng với sông Đà). Tục này gắn liền với một chiến tích chống quân xâm lược Tống thế kỷ 11, được ghi trong bản thần phả chép năm 1573 hiện còn lưu ở làng.

Bơi thuyền

Hằng năm, làng Văn Trưng (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) có tục thi bơi thuyền trên đầm Dưng trước cửa đình làng. Những chiếc thuyền dự thi là những chiếc thuyền ván, dài chừng 5-6 thước, trên mỗi thuyền có 6 tay đua. Đặc biệt họ không được dùng mái chèo để bơi, mà phải bơi bằng những đĩa phố, mỗi tay cầm một chiếc.

Đua ghe ngo ở Trung Bộ

Ngày xưa có lẽ cách đây hàng trăm năm về trước, vào ngày lễ Óc-om-bóc hàng năm, người Khmer thường tổ chức đua ghe ở Peam-kên-thô, tức là Vàm Tho, thuộc huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Ở đó, ghe Ngo của các nơi từ vùng Bạc Liêu lên, các vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện, vì ở đó có một đoạn sông thẳng, dòng nước chảy đều, trên bờ có chợ búa, dân chúng cất nhà ở đông vui. Những người đến xem đua ghe lúc đó thường là đi bằng ghe “Ca hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Ca chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc hai bên bờ, họ đem theo nồi niêu, bếp củi tự nấu ăn. Sau này, khi Tây vào, chúng bắt phải dời điểm đua từ Vàm Tho về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên bây giờ.

Những giá trị trên đây sẽ làm cho cộng đồng địa phương gắn bó với các vùng ĐNN của họ và do đó họ sẽ tích cực tham gia vào những dự án hồi phục, bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN. Đó cũng chính là nguyên lý của Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng mà hiện nay chúng ta đang gắng thực hiện.

Lễ hội nghinh Ông là lễ hội cúng cá Ông của ngư dân các tỉnh miền ven biển Việt Nam từ Quảng Bình trở vào Nam (gồm cả Phú Quốc). Cũng nhiều lễ hội khác, lễ hội Nghinh Ông là lễ hội cầu ngư: cầu cho biển lặng gió hòa, ngư dân may mắn làm ăn phát đạt, an khang.

Lễ hội nghinh Ông là loại lễ hội nước lớn nhất của ngư dân. Có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá “Ông”, lễ cúng “Ông”, lễ nghinh “Ông”, lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá “Ông” là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên.

Ở mỗi địa phương, lễ hội nghinh Ông diễn ra vào một thời điểm khác nhau.

Phần lễ

Thông thường lễ hội nghinh Ông có lễ rước và lễ tế truyền thống.

Lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thủy tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thủy tướng (nếu có ở địa phương đó). Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng.

Lễ tế diễn ra trang trọng sau lễ rước với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thủy tướng.

Phần hội

Trước thời điểm lễ hội, đã có hàng trăm chiếc tàu đánh cá của ngư dân được trang trí cờ hoa neo đậu dưới bến sông. Phần hội gồm các nghi thức rước Ông ra biển với hàng trăm ghe tàu lớn nhỏ cùng các lễ cúng trang trọng.

Ở tại nhà suốt ngày lễ hội, các ngư dân mời thỉnh lẫn nhau, kể cả khách từ nơi xa đến cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình.

Những hình thức văn hóa Lễ hội nghinh Ông cũng giúp bảo tồn cá voi và những thủy vực có liên quan trong đời sống tâm linh của ngư dân biển.

 Quản lý hệ thống sông theo giải pháp phi công trình

 Theo giải pháp này thì trị thủy hệ thống sông không nhất thiết phải đắp đê mà phải để cho đồng bằng ngập lũ (flood plains) ven sông được tiếp súc với nguồn phù sa của sông mẹ sinh ra nó để đồng bằng châu thổ có đủ điều kiện phát triển một cách tự nhiên, giảm đỉnh lũ hạ lưu và cải tạo đất bằng nguồn phù sa quý giá. Quan điểm này không phải dễ được tất cả mọi người chấp nhận nên đã có những tranh luận trong lịch sử về đê sông Hồng. Cụ thể là: Học giả Pháp Pierre Gourou vào đầu thế kỷ 20 từng viết: “Châu thổ sông Hồng đã bị chết trong tuổi vị thành niên của nó”. Có thể nói từ thời Lê, đồng bằng châu thổ sông Hồng đã chấm dứt giai đoạn phát triển tự nhiên của mình.Nó gần như bị cắt đứt liên hệ với chính con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng. Dòng nước chứa nhiều phù sa của sông Hồng không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân đê.

Do vậy đáy sông không ngừng bị nâng cao, nhiều doi cát giữa dòng và bãi bồi được hình thành, đặc biệt đoạn từ Sơn Tây đến Nam Định. Đó là nguyên nhân khiến từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi.

Tiến sĩ địa chất thủy văn Tạ Hòa Phương là người từ lâu quan tâm đến việc nghiên cứu địa hình của đới đứt gãy sông Hồng, cũng như tình trạng đê sông Hồng và những tác động của nó đến thủy văn của đồng bằng Bắc bộ và vùng châu thổ sông Hồng tại Hà Nội nói riêng cũng đồng quan điểm. Cách đây hơn 10 năm, ông đã có ý kiến về việc nên bỏ bớt một số đoạn đê sông Hồng.

Ông cho rằng: “Việc đắp đê sông Hồng là quyết định đúng đắn thời kỳ đầu. Năm 1108, vào thời Lý, con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá chỉ có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long. Những con đê thấp được đắp vào đời Trần (1225-1400) chỉ cốt giữ cho nước không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng – một giải pháp có thể chấp nhận được.

Nhưng những con đê bề thế được đắp mới và tôn tạo trên hai bờ Nhị Hà (sông Hồng) vào triều Lê Sơ (1428-1527) đã là sự can thiệp vào tự nhiên quá giới hạn cho phép.

Bị kềm kẹp giữa hai thân đê, sông Hồng càng trở nên hung dữ, đã “giãy giụa”, bứt phá, gây ngập lụt triền miên vào thời Nguyễn. Cũng chính trong thời Nguyễn đã có nhiều ý kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê. Ví dụ vào thời Minh Mạng, năm 1833 Đoàn Văn Trường, Đặng Văn Thiêm, Trịnh Quang Khanh đã dâng sớ xin khai sông thay vì đắp đê, tạm bỏ đê ở Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định. Sau 10 năm tăng cường tôn tạo và đắp đê, vua Minh Mạng đã cho áp dụng biện pháp thử bỏ đê và tiến hành đào sông Cửu An để tiêu lũ.

Phải thừa nhận đó là một quyết định mang tính cách mạng, tuy việc thực hiện chưa thành công do nhiều khó khăn khách quan. Tiếc rằng không phải ai cũng hiểu như vậy, có người còn đánh giá việc làm kể trên biểu hiện thái độ ươn hèn của triều đình Minh Mạng”.

Vào cuối thời Thiệu Trị, năm 1847, quyền tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Đăng Giai đã dâng sớ nêu 12 điều hại của đê và xin bỏ đê.

Nguyễn Đăng Giai khẩn khoản: “Nước với đất là vật nương tựa nhau. Đắp đê phòng lụt, nước không vào ruộng được, ruộng ngày càng khô ráo. Tuy có cấy lúa cũng không lên được… Mỗi năm đến tiết hạ – thu, nước sông trướng rật lên là phải đi hộ đông vệ tây, trống thúc huyên thiên, đồng ruộng lại khô hạn. Nhưng trong đồng thì mong nước như khát, mà bên ngoài sông thì coi nước như thù. Muốn đào ra lấy nước thì sợ vỡ đê. Muốn hộ đê cho vững thì ruộng lúa bị bỏ… Đường đê đã nhiều, hao phí tài lực càng lắm. Làm chỗ này hỏng chỗ kia. Kè bên đông thời bỏ bên tây. Đem cái công làm ruộng hữu hạn mà đắp đê bối vô hạn, tài lực của dân làm sao chịu nổi…”.

Tổng đốc kiến nghị khai đào một số con sông (ví dụ các sông Nguyệt Đức, Thiên Đức, Nghĩa Trụ) để phân lưu cho sông Hồng, đổ về phía đông, giảm bớt lượng nước tràn vào đồng ruộng: “Chỗ bồi lấp đào khơi ra. Sao cho dòng nước đều lưu thông. Các cửa sông có đê đắp ngang, xin khai đôi cửa sông lên phía trên để thu hút nước thượng lưu, bất tất phải nắn thẳng đem chỗ xa ra chỗ gần mà phí công tổn hại ruộng đất, chỗ ở, phần mộ của dân thành ra bất tiện… Nhất thiết đem cái công bồi đắp đê điều làm vào việc khai đào sông cũ, không nên làm gì khác để phí của. Khai đào được bao nhiêu đất bùn, đem ra xa hai bên bờ độ mấy chục trượng, tích lại để bảo vệ bờ nông”.

Vào thời Tự Đức, Nguyễn Đăng Khải đề xuất (năm 1857) xin giữ lại đê bên tả ngạn sông Hồng, phá bỏ đê bên hữu ngạn để nước lũ có thể tràn vào đồng ruộng; Vũ Văn Bình (năm 1861) đề nghị bỏ tất cả đê ở các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định; Trần Bình và Hoàng Tá Viêm cũng cho rằng bỏ đê thì lợi hơn đắp đê.

Vì thế đã đến lúc cần xem xét lại phương án bỏ đê từng bộ phận, đưa nước vào đồng bằng một cách có điều tiết, có thể kiểm soát mực nước dâng. Làm được điều đó châu thổ sông Hồng sẽ được hồi sinh. Những ô trũng trên đồng bằng sẽ được lấp đầy dần.

Theo ý chúng tôi thì nên có quy hoạch và cho mở một số đoạn đê ở một số triền sông lớn để lấy phù sa vào đồng ruộng đồng thời giảm đỉnh lũ cho hạ lưu, bảo vệ tài sản và tính mạng của dân hạ lưu. Nhất là trong thời kỳ nước ta phải gánh chịu những tác động nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu. Cuộc sống của người dân ở vùng phá đê phải được thay đổi giống như cách sống của người vùng phân lũ Gia Viễn. Khi đó thay cấy lúa bằng nuôi trồng thuỷ sản, trồng rau ngập nước và sống trên nhà sàn, đi lại bằng thuyền v.v…

Mấy nét về lịch sử đắp đê

Lịch sử hình thành đê bao quanh Hà Nội và cả hệ thống đê điều đồng bằng Bắc bộ chỉ bắt đầu khi vua Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long. Nhà Lý coi trọng nông nghiệp, nên ngay sau khi đóng đô đã ban hành nhiều sắc lệnh khuyến nông, cấm giết trâu bò, trị tội trộm trâu bò rất nặng, giữ lệ cày ruộng tịch điền có từ thời vua Lê Đại Hành… Vì vậy, việc trị thủy sông Hồng và các hệ thống sông nhánh được coi là căn cốt để duy trì nền kinh tế nông nghiệp.

Ông Nguyễn Gia Quang, nguyên phó cục trưởng Cục Đê điều, cho biết khởi thủy đê chỉ là những dải đất do phù sa lắng đọng và tôn cao sau các trận lụt được nối lại với nhau để ngăn nước lũ. Ban đầu chỉ là những dải đê quai không liền mạch, mang tính làng xã, địa phương. Nhưng với sự phát triển của một nhà nước phong kiến tập quyền trung ương mạnh, bắt đầu từ nhà Lý đắp đê phòng lụt đã vươn ra ngoài khuôn khổ nhằm bảo vệ quyền lợi cục bộ cho làng xã họ hàng. Dù dời đô về Thăng Long từ năm 1010, do còn bận bịu với quá nhiều công việc về ổn định chính trị và quốc phòng nên mãi đến năm 1077, triều đình mới đứng ra chủ trương đắp những con đê quy mô to lớn.

Theo Việt sử lược: năm 1077, nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt – sông Cầu dài 67.380 bộ (khoảng 30km). Năm Quý Mùi (1103), triều Lý Nhân Tông năm thứ 32, mùa xuân tháng giêng, vua xuống chiếu cho trong và ngoài kinh thành đều phải đắp đê ngăn nước lụt.

Tháng 3 năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên của sông Hồng được đắp ở phường Cơ Xá có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long.

Dưới đời nhà Trần, những con đê được đắp chỉ cốt giữ nước không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ chiêm. Dưới triều Lê sơ, những con đê lớn hơn được đắp mới và tôn tạo trên hai bờ sông Nhị Hà được xem là sự can thiệp vào tự nhiên quá giới hạn cho phép, kết quả là sông Hồng trở nên hung dữ, đã bùng vỡ và gây ngập lụt triền miên.

Nguồn www.tuoitre.com.vn (thứ tư 29/09/2010). “Kỳ tích đê sông Hồng”

Cũng nói về  chức năng chống lũ lụt của ĐNN tiến sĩ Paul A. Keddy, 2000 đã cho rằng:

ĐNN ngày nay được biết là có chức năng hoặc dịch vụ trong việc chứa nước lũ: nước có thể được tồn trữ trong chất bám như trong đất than bùn hoặc trong những vùng đất trũng rồi đến toàn bộ lưu vực. Thậm chí ĐNN có thể giảm lũ ở hạ lưu bằng cách cho phép dòng chảy toả ra một vùng rộng lớn của cảnh quan do đó có thể giảm được cả tốc độ dòng chảy và độ sâu của nước lụt. Khi tổn thất về lũ lụt sảy ra thì những biện pháp tức thời có thể được áp dụng như đắp đê và như vậy đã làm cho lũ lụt tăng lên về dài hạn vì nước lũ chỉ được tải trong một con kênh hẹp so với trước kia. Những dịch vụ như chứa nước lũ thường bị bỏ qua khi ra quyết định về sử dụng đất của vùng lưu vực. Bởi vậy Thibodeau và Ostro đã nỗ lực chứng minh ý nghĩa kinh tế của ĐNN bằng cách tạo ra 8.500 acre đầm lầy cỏ và cây bụi ở lưu vực sông  Charles, Massachusetts. Lợi ích từ vùng ĐNN này được chia thành 2 loại như kiểm soát lũ lụt, cung cấp nước nâng cao giá trị của những vùng đất lân cận, giảm ô nhiễm và giải trí và thẩm mỹ.

Giá trị về kiểm soát lũ lụt được ước tính bằng cách dự báo tổn thất nếu không có ĐNN. Với trận bão năm 1995 đoàn kỹ sư của quân đội Hoa Kỳ dự đoán rằng ĐNN của sông Charles đã giảm đỉnh lũ của sông đến 65% và làm chậm lũ đến 3 ngày sau khi trận bão bắt đầu. Tổn thất về tài sản sẽ lên đến mức nào nếu không có những ĐNN này? Thibodeau và Ostro cho rằng thiệt hại về lũ lụt hàng năm có thể lên tới 18 triệu đô la Mỹ và giá trị của mỗi acre ĐNN sẽ là khoảng 2.000 đô la Mỹ. Tài sản làm ra lợi tức là 2.000 đô la thì giá trị kinh tế của nó lên đến 33.000 đô la Mỹ. (Paul A. Keddy, 2000 ).

Chống lũ lụt ở các hệ thống sông miền Trung Việt Nam

Đặc điểm của các sông miền Trung là ngắn và độ dốc cao, lượng mưa lại lớn và tập trung nên nước mưa sẽ dồn nhanh xuống hạ lưu gây ra thảm họa to lớn đối những cộng đồng dân cư hạ lưu. Một trong những giải pháp phi công trình là kiểm kê kỹ lưỡng đất ngập nước ở thượng nguồn và dọc hai ven sông của những con sông này. Những ĐNN này phải được hồi phục nếu đã bị biến đổi và phải bảo tồn nếu chưa bị biến đổi để làm nhiệm vụ chứa nước mưa trước khi chúng đổ xuống hạ lưu. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng nếu có 15% diện tích ĐNN tự nhiên ở thượng nguồn thì sẽ giảm được 50% đỉnh lũ ở hạ lưu. Những hồ thủy điện cũng làm nhiệm vụ chứa nước mưa những chúng cũng có thể gây thảm họa do những trận mưa lớn vượt qúa sức chứa của hồ và khi đó hoặc là đập bị vỡ hoặc là phải xả lũ khẩn cấp xuống hạ lưu sẽ gây ra thảm họa với cộng đồng tại đây.

Tóm lại nếu đối chiếu với khái niệm “Sử dụng khôn khéo ĐNN” thì  Việt Nam chúng ta còn nhiều việc phải làm để đạt được mục tiêu này như đã thấy trên đây.

 

Sưu tầm: PGS. Lê Diên Dực

Advertisements

Đã đóng bình luận.