HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ “bức tử” rừng Cát Tiên!

Sông Cát Tiên

Một đoạn của dòng sông tại Cát Tiên

“Không” là câu trả lời của hầu hết những người đang quan tâm đến hai Dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A gây xôn xao dư luận mấy ngày qua. Không vì hai dự án này chứa đựng quá nhiều tiềm tàng nguy hiểm cho người dân xung quanh và đặc biệt là đe dọa, phá hủy hệ sinh thái Vườn quốc gia Cát Tiên – khu dự trữ sinh quyển của nhân loại.

Làm thủy điện hay khai thác gỗ?

Theo thống kê mới nhất, trong số 145 vườn quốc gia (VQG) của cả nước đã có tới 45 VQG có dự án thủy điện nằm bên cạnh. Chỉ tính riêng trên dòng chính của sông Đồng Nai hiện nay đã có 9 nhà máy thủy điện: Đa Nhim, Đại Ninh, Trị An, Đồng Nai 2, 3, 4, 5 và hai dự án chuẩn bị đầu tư xây dựng là Đồng Nai 6 và 6A. Theo thống kê của Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng, để Thủy điện Đại Ninh đi vào hoạt động thì tỉnh đã mất 2.667ha đất rừng. “Nếu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng chỉ tính có khoảng 25 công trình thủy điện lớn, vừa và nhỏ thì tỉnh đã mất hơn 15.000ha rừng tự nhiên. Bình quân, để có được 1MW điện phải mất 10-16ha đất lâm nghiệp và sản xuất nông nghiệp” – ông Lương Văn Ngự, Phó giám đốc Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng tính toán. Theo đó nếu hàng chục nhà máy thủy điện đã và sẽ xây dựng với tổng công suất khoảng 3.280MW thì phải “ăn” sấp sỉ 50.000ha đất lâm nghiệp, nông nghiệp.

Trở lại trọng tâm hai Dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đang bị lên án gay gắt. Theo tính toán thì Dự án Thủy điện Đồng Nai 6 sẽ làm ngập gần 171ha đất rừng, trong đó có 87ha đất rừng thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Cát Tiên. Thủy điện Đồng Nai 6A nằm trong vùng lõi VQG Cát Tiên sẽ làm ngập hơn 110ha đất rừng, trong đó trên 50ha đất rừng thuộc phân khu chức năng bảo vệ nghiêm ngặt. Tính chung, hai Dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ “ăn” 137,5ha đất rừng của VQG Cát Tiên và làm ngập 281ha đất rừng tính chung trong khu vực. Đó là một con số thật kinh khủng mà chúng ta phải đánh đổi để có Thủy điện 6 và 6A. Ấy vậy mà ông Trần Bá Hiệp, Giám đốc các dự án thủy điện của Tập đoàn Đức Long Gia Lai cho rằng, việc mất đi 137ha rừng là không đáng kể gì, và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của một khu dự trữ sinh quyển?!

Tại sao có quá nhiều dự án thủy điện đã, đang và sẽ thi công càng lúc càng tiến sát vào những vùng lõi của các vườn quốc gia, những vùng rừng quý hiếm, đang được bảo vệ? Ai cũng biết trong những khu rừng ấy có muôn vàn gỗ quý hiếm, giá trị rất cao, hay nói cách khác những khu rừng ấy là đống vàng. Phải chăng đó là nguyên nhân khiến cho các khu rừng nguyên sinh trở nên hấp dẫn đối với các dự án thủy điện? Thật ra thì câu trả lời đã có những năm qua khi mà mỗi mùa lũ về, gỗ xẻ do “tận thu” khi xây thủy điện hoặc do lâm tặc chưa kịp lấy đi tràn về xuôi ngùn ngụt. Nhiều chuyên gia khẳng định rằng khai thác, tận thu gỗ là một nguồn lợi không thể thiếu trong quá trình xây dựng các thủy điện “ăn” rừng gần đây.

Theo khảo sát của TS Vũ Ngọc Long – Viện phó Viện sinh học nhiệt đới, người trực tiếp khảo sát, điều tra, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của hai dự án thủy điện trên cho biết khu vực xây hai thủy điện là khu vực sinh cảnh rừng nguyên sinh đặc trưng của VQG Cát Tiên. Trong khu vực này có rất nhiều loại cây gỗ quý có tên trong sách đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại VN như: cẩm lai, trắc, mun, gõ mật, sao đen, dầu, ko nia… và nhiều loài động, thực vật đặc hữu đặc trưng khác.

Như vậy thật có lý khi ta đặt dấu hỏi cho việc Công ty CP Đầu tư và Phát triển điện năng Đức Long Gia Lai là đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Đức Long Gia Lai, một tập đoàn làm giàu bậc nhất nhờ sản xuất, chế biến gỗ ở Tây Nguyên lại nhiệt tình đầu tư hàng loạt các thủy điện trong khu vực này và miền Trung. Vậy thì việc ông giám đốc các dự án thủy điện của Công ty Điện năng Đức Long Gia Lai hồn nhiên nói rằng, mất 137ha đất rừng VQG Cát Tiên là “không đáng kể” cũng là điều dễ hiểu. Đó là một phát ngôn được đánh giá là gây phản cảm nhất trong thời gian qua. Dẫu theo ông Trần Bá Hiệp thì việc xây thủy điện là nhằm giải quyết nhu cầu của quốc gia, người dân về điện năng nhưng đó chỉ là một mục đích phụ, bởi nếu thật sự ông thương và quan tâm đến chuyện quốc gia đại sự, cho an sinh nhân dân thì ông đã không làm bừa và thiếu trách nhiệm đến mức tối thiểu như vậy. Công ông chưa thấy nhưng việc làm của ông đã khiến hàng chục nghìn người dân bất mãn, dân phản đối thì nhiều vì mục tiêu trước mắt là một món lợi khác và dự án ấy tiềm tàng nhiều mối nguy cho môi trường, cuộc sống người dân.

Đánh giá tác động: Làm cho có

Để làm thủy điện thì phải tàn phá thiên nhiên; xong chúng ta phải trả giá đắt cho việc làm đó đã không là điều mới mẻ xa lạ gì. Những cơn đại hồng thủy tàn phá miền Trung thời gian qua khi phong trào thủy điện bùng phát là lời đáp trả của thiên nhiên. Những thiệt hại về người và của từ những trận lũ lụt mà chúng ta phải gánh chịu hàng năm là cái giá mà các dự án thủy điện không thể nào bù đắp. Vì thế cho nên các dự án thủy điện đều phải có đánh giá tác động môi trường. Song, điều đó là vô nghĩa khi mà các ông chủ dự án không hề quan tâm đến điều gì khác ngoài mục đích lợi nhuận của đơn vị và cá nhân. Và chắc chắn các đơn vị được chủ đầu tư thuê tư vấn làm báo cáo ĐTM sẽ không nói đúng sự thật là công trình sẽ tác động xấu đến môi trường thế nào bởi nói thế thì chủ đầu tư sẽ không trả tiền. Và nói cách khác hơn là chủ đầu tư và đơn vị được thuê có thể đã thỏa thuận trước kết quả đánh giá bằng một số tiến tương ứng nào đó ngay trên bàn nhậu rồi!

Vậy xây thủy điện nói chung và Thủy điện Đồng Nai 6, 6A ảnh hưởng như thế nào tới môi trường và an sinh xã hội? Rừng mất, đồi trọc mọc lên càng nhiều thì tất yếu mùa khô sẽ bị hạn hán và lũ dữ xảy ra trong mùa mưa bão. Người dân xung quanh vùng, nhất là người dân làm nghề đánh bắt cá, làm nông chắc chắn sẽ mất việc làm bởi dòng nước bị chặn. Có mặt trong một đoàn khảo sát về tác động môi trường của các thủy điện trên sông Đồng Nai cuối năm 2010, chúng tôi ghi nhận được trên dọc con đường dài khoảng 35km từ Thủy điện Đồng Nai 3 sang Đồng Nai 4, rất nhiều quả đồi trọc nằm liền kề nhau, chỉ còn là những đồi trà, nương cà phê. Rừng bị triệt phá gần như hoàn toàn, làm khả năng giữ nước lại trong đất không nhiều, những dòng suối đổ về sông Đồng Nai cũng cạn dần. Theo ghi nhận trong chuyến khảo sát kể trên thì thời điểm ấy rất nhiều nhánh của sông Đồng Nai đều khô, trơ đáy vì nguồn nước bị chặn trên thượng nguồn.

Hàng loạt các dự án thủy điện trên sông Đồng Nai đã, đang khảo sát, thiết kế, xin phép đầu tư cộng với các thủy điện trước đó trên thượng nguồn đang bao vây và dần “bức tử” VQG Cát Tiên. Nhất là Thủy điện Đồng Nai 5 chỉ cách VQG Cát Tiên 1km và nay là hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A “ăn” một phần vào VQG này. Khi thủy điện này được xây, hai bờ sông Đồng Nai nối kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ xấu vào săn bắt thú rừng và khai thác gỗ VQG Cát Tiên một cách dễ dàng. Vừa qua, đứng dưới góc nhìn của người làm nghiên cứu Động vật học Việt Nam, GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh đã khẳng định, việc xây Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tê giác và các loài động vật đặc hữu như bò tót, bò rừng, chà vá… Khi đó, loài tê giác một sừng, loài động vật cực kỳ quý hiếm của thế giới, ở VN chỉ còn lại vài con trong VQG này chắc chắn sẽ bị tuyệt chủng hoàn toàn. Đó là một tin buồn cho giới khoa học về động vật học của Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung.

Với những tác động gây ảnh hưởng trực diện lên môi trường và sự sống con người khi xây thủy điện như thế thì chúng ta không thể để khâu ĐTM chỉ diễn ra như một hình thức, nhiều tiêu cực, không thực tế. Vì thế thật cần thiết khi có quy hoạch dự án thủy điện, Nhà nước nên chủ động làm ĐTM thông qua hình thức đấu thầu công khai. Sau đó đưa vào bảng báo cáo ĐTM mà cấp có thẩm quyền xem xét có tiếp tục cho tiến hành dự án hay không. Và đơn vị nhận thầu tư vấn và hội đồng thẩm định lại bảng ĐTM đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu công trình có tác động xấu xảy ra.

3 người và… 4 ngày?

Hàng trăm nhà máy thủy điện lần lượt mọc lên như nấm sau mưa thế nhưng năng lượng điện vẫn đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt và thật sự là đang thiếu, đó quả là một nghịch lý hết sức bất thường. Tuy nhiên, nghịch lý này là một hệ quả tất yếu của việc những đơn vị, tập đoàn có năng lực kinh tế như ông giám đốc Công ty điện Đức Long Gia Lai nhưng lại không am hiểu về thủy điện lại ồ ạt đầu tư làm thủy điện để nhắm vào những cái lợi trước mắt của riêng bản thân. Để đánh giá ĐTM của một dự án lấy đi 137ha rừng quốc gia mà người ta chỉ cần có 3 người để khảo sát trong vòng có một tuần, lại mất tới… 3 ngày lạc lối  nghĩa là chỉ còn làm có 4 ngày (mà nếu họ nghỉ thứ Bảy, Chủ nhật có lẽ chỉ còn… 2 ngày) thì kết quả của bản báo cáo ĐTM ấy sẽ như câu chuyện kể về một chuyến picnic không hơn không kém. Ấy vậy mà họ cũng có thể coppy ở dự án này một ít, dự án kia một ít để có được cái báo cáo về ĐTM của dự án trình lên Bộ TN-MT! Nhưng không được duyệt, họ mang về sửa tới sửa lui nhưng kết quả cũng gần giống y như cũ bởi thực tế họ đã tới được nơi cần khảo sát của vùng bị ảnh hưởng đâu. Song, kết quả ĐTM chẳng quan trọng nữa vì kết quả có ra sao thì cũng không ngăn được ý muốn biến nguồn sống của nhân loại làm của riêng của các ông chủ dự án bởi “chúng tôi không biết, vì chúng tôi đâu có chuyên môn”. Đó là một sự biện minh hết sức thản nhiên đầy vô cảm.

Lâu nay người ta đổ thừa  cho tình trạng thiếu nước ở các nhà máy là do thiếu mưa (có phần đúng nhưng chưa đủ) những lý do ấy là sự thiếu hiểu biết trong các tư duy về thủy điện. Bởi thực tế khoa học chứng minh rằng, trên cùng một dòng sông chỉ làm một hồ thủy điện thì điện sẽ phát quanh năm, làm hai hồ thủy điện thì thời gian phát điện ngắn lại vài tháng tức thời gian phát điện tỉ lệ nghịch với số nhà máy thủy điện xây trên một dòng sông! Đó cũng là một sự thật đã diễn ra trước mắt ta, trên những nhà máy thủy điện mà con sông Đồng Nai đang gồng mình nặng gánh. Trong đợt khảo sát về tác động môi trường của các nhà máy thủy điện trên sông Đồng Nai cuối năm 2010 cho thấy hàng loạt nhà máy điện phải ngưng hoạt động do thiếu nước. Cụ thể kết quả nghiên cứu như sau: Hồ thủy điện Trị An nằm gần cuối sông Đồng Nai không tích đủ nước để vận hành nhà máy điện; ngược lên thượng nguồn sông Đồng Nai, tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng thì Thủy điện Đồng Nai 2 cũng đang trong giai đoạn tích nước để chuẩn bị việc khởi động các tổ máy. Thủy điện Đồng Nai 3 cũng đang tích nước nhưng lượng nước về hồ vẫn rất ít, không thể vận hành được các tổ máy phát điện.

Giải thích lý do thiếu nước khiến nhiều nhà máy thủy điện phải “nghỉ ngơi” hoặc hoạt động cầm chừng là do các thủy điện trên thượng nguồn sông Đồng Nai như Đại Ninh, Đồng Nai 2… đang tích nước để phát điện. Xây thủy điện được ví như xây “bể chứa nước trên cao”, chỉ có bể ở thượng nguồn mới có thể chứa nước đầy đủ để đảm bảo cho việc phát điện được bền vững. Vậy xây hàng loạt các thủy điện trải dài xuống hạ lưu trên cùng một con sông Đồng Nai rõ ràng là có vấn đề. Việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên sông Đồng Nai đã lộ rõ nhiều bất cập cần nghiên cứu và rà soát, đánh giá lại hiệu quả sử dụng cũng như việc cấp phép xây mới! Để chúng ta không rơi vào tình trạng vô lý là thiếu điện trong khi nước ta lại sở hữu quá nhiều nhà máy thủy điện.

Sao không phát triển năng lượng điện an toàn?

Nước ta được đánh giá là có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng tái tạo, nhất là năng lượng bức xạ mặt trời trung bình đạt 4 đến 5kWh/m2 mỗi ngày nên có rất nhiều lợi thế phát triển hệ thống sử dụng năng lượng này. Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ khai thác được 25% nguồn năng lượng tái tạo (trong đó có năng lượng mặt trời) và còn lại 75% vẫn chưa được khai thác. Với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam trong hơn thập kỷ qua đã khiến cho nhu cầu về điện năng tăng thêm khoảng 15% mỗi năm. Nhưng chúng ta thiếu hụt nguồn cung cấp điện đang gia tăng, đặc biệt là vào mùa khô do sự phụ thuộc quá lớn vào thủy điện

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, nguồn năng lượng mặt trời sử dụng hầu như quanh năm… Trừ những ngày có mưa rào, có thể nói trên 90% số ngày trong năm đều có thể sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện dùng cho sinh hoạt. Tháng 5 vừa qua, chúng ta vừa khởi công xây dựng Trung tâm Điện năng lượng mặt trời đầu tiên của Việt Nam tại Quảng Nam, nơi có lượng năng lượng mặt trời tốt nhất quanh năm. Nhà máy sản xuất tấm thu năng lượng mặt trời Quảng Nam là một trong những dự án công nghiệp rất phù hợp với nhu cầu xã hội, với bài toán phát triển và an ninh năng lượng của Việt Nam. Dẫu việc đầu tư một trung tâm điện năng lượng mặt trời cao hơn chi phí xây dựng một thủy điện nhiều nhưng trong bối cảnh nhu cầu ngày càng cao, nguồn năng lượng truyền thống như thủy, nhiệt điện… đang cạn kiệt, thì việc tìm và phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo… là hướng đi tất yếu. Năng lượng mới, năng lượng tái tạo như sức gió, mặt trời… không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, an sinh xã hội mà đó là nguồn năng lượng mang lại sự phát triển bền vững, an ninh năng lượng cho nước ta.

Lê Trúc

nguồn:http://www.petrotimes.vn/phong-su-dieu-tra/2011/07/thuy-dien-dong-nai-6-va-6a-se-buc-tu-rung-cat-tien
Advertisements

Đã đóng bình luận.