HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Đánh giá liên ngành chính sách, pháp luật và thể chế quản lý đất ngập nước ở Việt Nam

Tóm tắt 

ĐNN (ĐNN) của Việt Nam  đa dạng về kiểu loại, phong phú về tài nguyên, ĐDSH (ĐDSH), có nhiều chức năng quan trọng như nạp và tiết nước ngầm, cung cấp nước ngọt, điều hoà sinh thái và khí hậu, xuất khẩu sinh khối, hạn chế lũ lụt, chắn sóng và gió bão, chống xói lở và ổn định bờ biển, là nơi du lịch giải trí, duy trì ĐDSH và có giá trị về kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhằm quản lý ĐNN, Chính phủ Việt Nam đã hình thành được hệ thống chính sách, pháp luật và thể chế ĐNN. Nhờ đó, trong những năm qua, công tác bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN đã có những bước tiến rõ rệt.

Hệ thống chính sách, pháp luật về ĐNN

Hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam có liên quan tới ĐNN thể hiện ở một số các văn bản có tính chất định hướng chung và nhiều văn bản liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới ĐNN.  Các chủ trương, chính sách và định hướng chung, được thể hiện ở Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng toàn diện và xoá đói giảm nghèo; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Nghị quyết số 41 – NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về vấn đề bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Các mục tiêu thiên niên kỷ. Những chủ trương, chính sách và định hướng chung này sẽ là kim chỉ nam để đưa ra các quyết định, qui định cụ thể về bảo vệ và sử dụng bền vững ĐNN trong các trường hợp cụ thể.

Đề cập tới các văn bản cụ thể liên quan trực tiếp tới ĐNN, cần nhấn mạnh sự ra đời của Nghị định về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng ĐNN và thông tư của Bộ Tài nguyên Môi trường (TN&MT) hướng dẫn thực hiện Nghị định này, cũng như Quyết định của Bộ trưởng Bộ TN&MT về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN giai đoạn 2004- 2010. Đây là những văn bản có tính quan trọng trong việc phân công, phân cấp và điều chỉnh các nội dung quản lý về ĐNN.

Ngoài ra, các chính sách, pháp luật khác về các lĩnh vực có liên quan như tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật…cũng điều chỉnh các hoạt động có liên  đới tới ĐNN.

Bên cạnh những ưu điểm, hệ thống chính sách, pháp luật về ĐNN vẫn còn tồn tại những vấn đề sau :

– Khái niệm ĐNN chưa được định nghĩa và đề cập một cách rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật.

– Hệ thống văn bản dưới Luật, chính sách, thể chế quản lý ĐNN thiếu đồng bộ, chưa hoàn thiện, các điều khoản qui định pháp lý có liên quan đến ĐNN bị phân tán, chồng chéo, thiếu cụ thể, thiếu khoa học và chưa tính hết các yếu tố kinh tế – xã hội nên khó thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả, một số chính sách quản lý chưa phù hợp đối với một số vùng ĐNN.

  • Các chế tài xử phạt hành chính, hình sự chưa hợp lý, chưa đủ mạnh.
  • Các văn bản pháp luật liên quan quản lý ĐNN mới chỉ đề cập đến phân hạng và phân cấp quản lý các khu ĐNN (Vườn Quốc gia (VQG), khu Bảo tồn Thiên nhiên ĐNN, các khía cạnh kinh tế, các giải pháp bảo vệ như xử lý vi phạm, nghiêm cấm việc sử dụng các phương tiện huỷ diệt để khai thác nguồn tài nguyên sinh vật; một số hoạt động bảo tồn, đặc biệt là với loài chim nước nhưng ít chú ý đến hoạt động phát triển.
  • Thiếu quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát triển ĐNN; lồng ghép bảo tồn, khai thác ĐNN trong quản lý tổng hợp lưu vực sông, các vùng ĐNN dải ven biển và các đảo; lập ngân hàng dữ liệu về ĐDSH đối với các vùng ĐNN: ĐNN trên đất liền, cửa sông, ven biển, các đảo, đây là những cơ sở rất quan trọng để quản lý bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN; thống kê các loài chim, thủy sinh di trú ở các vùng ĐNN và lưu vực sông xuyên biên giới.
  • Chưa có chính sách thống nhất và rõ ràng về việc bảo vệ, mở rộng hay thu hẹp các vùng ĐNN, chính sách thu hút cộng đồng vào quản lý ĐNN.
  • Các quy định, pháp luật về quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững ĐNN thiếu; cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban ngành, địa phương trong các hoạt động liên quan đến ĐNN chưa thống nhất và thiếu các chế tài để thi hành.

Thể chế về ĐNN

Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ đã thể chế hoá sự quản lý nhà nước về ĐNN thông qua sự phân công trách nhiệm cho các Bộ và Sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho các Bộ, ban, ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ĐNN. Bộ TN&MT hiện nay được giao là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ĐNN, các bộ ngành hữu quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Bộ Thuỷ sản,…tham gia trong việc quản lý các vùng ĐNN có tính chất chuyên ngành.

Thể chế quản lý nhà nước cấp địa phương đó được tổ chức trên nguyên tắc trực thuộc (trực thuộc các cơ quan chuyên ngành trung ương và Ủy ban Nhân dân tỉnh), thực hiện công tác quản lý ĐNN ở một số nơi đạt hiệu quả tốt. Nguồn đầu tư của Chính phủ và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN ngày càng tăng. Số lượng dự án trong nước và hỗ trợ quốc tế liên quan tới ĐNN ngày càng nhiều và phát huy hiệu quả tích cực.

Tuy nhiên, hệ thống thể chế về ĐNN hiện nay vẫn còn chưa đủ mạnh. Các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ về quản lý ĐNN còn thiếu nhân sự, năng lực, thiết bị, tài chính để thực hiện các nhiệm vụ này. Hơn nữa, hiện nay chúng ta vẫn chưa có một Ủy ban Điều phối Quốc gia về ĐNN được thành lập và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của phó Thủ tướng Chính phủ.  Những hạn chế này sẽ ảnh hưởng lớn tới hiệu quả quản lý ĐNN.

Tên cơ sở đánh giá hệ thống chính sách, pháp luật và thể chế về ĐNN, nhóm nghiên cứu đã đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống này.

Về chính sách và pháp luật, trong thời gian tới cần đẩy mạnh việc rà soát hệ thống chính sách và pháp luật hiện có, xây dựng và ban hành các văn bản mới có liên quan tới quản lý và bảo tồn ĐNN, đặc biệt các quy định về chế tài xử phạt hành chính về ĐNN,  hệ thống tiêu chí, bảng phân loại về ĐNN, quy hoạch ĐNN…Bên cạnh việc xây dựng văn bản, tổ chức thực hiện tốt các văn bản đã ban hành cũng là một trong những kiến nghị được đề xuất, trong đó nhấn mạnh phải thúc đẩy việc thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN, Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN giai đoạn 2004 – 2010.

Về thể chế, hướng hoàn thiện cơ cấu về quản lý ĐNN của Việt Nam là bên cạnh việc xây dựng Uỷ ban quốc gia hoặc Hội đồng quốc gia về ĐNN, cần nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước, đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ về quản lý và bảo tồn ĐNN, xây dựng hệ thống các Khu bảo tồn ĐNN, xem xét đề xuất các mô hình quản lý phù hợp với tình hình thực tế.

Để thực hiện việc tăng cường hệ thống chính sách, pháp  luật và thể chế về ĐNN có hiệu quả, báo cáo đề xuất lộ trình thực hiện bao gồm: i)Thực thi các biện pháp quản lý mang tính hỗ trợ ; ii)Tăng cường các biện pháp quản lý, bảo tồn, sử dụng, khôi phục và phát triển ĐNN; iii) Nhanh chóng tham gia các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên có liên quan đến ĐNN; iv) Hợp tác quản lý và chia sẻ thông tin; v) Phân định các tiêu chí, giá trị ĐNN.

Có thể nói, trong 15 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý để quản lý ĐNN, tạo điều kiện cho hội nhập quốc tế, trong đó pháp luật về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên là một phần quan trọng trong hoạt động bảo tồn ĐDSH và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN. Song để đáp ứng nhu cầu quản lý bền vững ĐNN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chính phủ cần tăng cường hơn nữa hệ thống chính sách, luật pháp và thể chế quản lý ĐNN này.

Nguồn: CRES

Báo cáo chi tiết xin liên hệ:

Advertisements

Đã đóng bình luận.