HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Đánh giá biến động tài nguyên khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy kể từ khi vùng đất ngập nước này được khoanh định thành khu Ramsar (1989)

Giới thiệu:

Các hệ sinh thái đất ngập nước (ĐNN) có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Ngược dòng thời gian trong lịch sử phát triển của các nền văn minh nhân loại, cách đây hơn 350 triệu năm, nhiều vùng ĐNN đã tạo nên các nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt mà cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn đang sử dụng [16]. Các hệ sinh thái ĐNN là nguồn cung cấp thủy hải sản, nước ngọt, hạn chế xói lở, bão lụt, bảo tồn các chu trình sinh địa hóa, ĐDSH và là một phần không thể thiếu được trong lịch sử văn hóa nhân loại.

Tuy nhiên, ĐNN nói chung và ĐNN cửa sông ven biển nói riêng đã và đang suy giảm cả về diện tích và cấu trúc, chức năng các hệ sinh thái. Chỉ trong vòng 100 năm trở lại đây, ba phần tư diện tích ĐNN trên thế giới đã bị chuyển thành các mục đích khác.

Việt Nam có diện tích ĐNN ven biển rất rộng lớn với các hệ sinh thái hết sức đa dạng bao gồm các vùng cửa sông, bãi bồi ven biển, rừng ngập mặn (RNM), cỏ biển, san hô, các đầm phá, vụng, vịnh. Trong những năm gần đây, các hệ sinh thái này suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích và chất lượng. Những nguyên nhân thì có nhiều nhưng đặc biệt là do sử dụng vào mục đích kinh tế trước mắt, do công tác quản lý còn yếu và không đồng bộ.

Tháng 9 năm 1989, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy (KBTTN ĐNN Xuân Thủy) được thế giới  công nhận là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam á, đưa Việt Nam trở thành  thành viên thứ 50 của công ước này.

KBTTN ĐNN Xuân Thủy là một bộ phận của châu thổ sông Hồng hiện đại, có đỉnh nằm ở gần Hưng Yên, đáy trải dài từ Đồ Sơn (Hải Phòng), đến Lạch Trường (Thanh Hóa). Đây là khu vực lõm nhất của đường bờ châu thổ, có năng lượng sóng nhỏ, rất thuận lợi cho bồi tụ kiểu lấp góc trong điều kiện có dòng bồi tích dọc bờ tổng hợp hướng Đông Bắc-Tây Nam. Do vậy nơi đây chính là mẫu chuẩn của hệ sinh thái ĐNN ven biển tiêu biểu ở cửa sông lớn thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Cũng chính vào thời điểm này việc khai thác nguồn lợi thủy sản ở KBTTN ĐNN Xuân Thủy phục vụ cho mục đích xuất khẩu (chủ yếu là xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc) trở thành một phòng trào có quy mô rộng lớn. Diện tích RNM bị thu hẹp nhanh chóng để làm các ao nuôi tôm xuất khẩu, hệ sinh thái RNM do bị ngâm nước thường xuyên trong các đầm tôm bị chết hàng loạt, gây ô nhiễm trầm trọng. Sản lượng thu hoạch thủy sản tỷ lệ nghịch với việc tăng diện tích các ao tôm trong vùng.

Từ trước tới nay đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về hệ sinh thái ĐNN ven biển tại KBTTN ĐNN Xuân Thủy. Nhưng nhìn chung các công trình, đề tài đó chỉ dừng lại ở việc mô tả số liệu mà không đưa ra những đánh giá nhận định sâu sắc dưới góc độ liên ngành kết hợp khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, chưa xây dựng được một cơ sở dữ liệu đầy đủ, thống nhất về điều kiện tự nhiên,   KT-XH và mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Với cách nhìn nhận như vậy, nhóm các tác giả đã chọn đề tài  “Đánh giá những biến đổi môi trường và các hoạt động có liên quan lên khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy kể từ khi thành lập (1989)” nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho hệ thống quản lý tổng hợp tại KBTTN ĐNN Xuân Thủy và cung cấp tư liệu cho các cơ quan quản lý nhà nước.

Xem file chi tiết

Đã đóng bình luận.

%d người thích bài này: