HỘI ĐẤT NGẬP NƯỚC VIỆT NAM

Vietnam Wetlands Association

Sách tham khảo mới: Đất ngập nước “Các nguyên lý và sử dụng bền vững”

Giới thiệu:

Đây là quyển sách vừa mới được ra lò với hai tác giả là PGS. TS. Lê Diên Dực một chuyên gia đầu ngành  về nghiên cứu đất Ngập nước tại Việt Nam và TS. Hoàng Văn Thắng cũng là một trong những chuyên gia  nghiên cứu về chim và đất ngập nước của Việt nam. Quyển sách do nhà xuất bản Nông nghiệp in và phát hành tháng 9 năm 2012. Xin mới quý độc giả đón đọc.

Lời nói đầu 

Đất ngập nước phân bố ở khắp mọi châu lục trừ Nam Cực và chiếm khoảng 6,75% bề mặt Trái Đất (8.558.000 km2).

Hệ sinh thái (HST) đất ngập nước (ĐNN) là một bộ phận của thiên nhiên phong phú. Trên bình diện quốc tế, dịch vụ của HST ĐNN tạo ra đạt hàng nghìn tỷ USD mỗi năm – tất cả đều là miễn phí – là một cống hiến to lớn cho sức khỏe và phồn vinh của con người. Dân số thế giới sẽ tăng lên 9 tỷ người vào năm 2050, áp lực về nước sẽ tăng lên và đe dọa do biến đổi khí hậu cũng đang đặt ra, yêu cầu cực đại hóa những lợi ích này lớn chưa từng thấy và rất cấp bách.

Không phải ngẫu nhiên mà các thung lũng sông, đồng bằng ven biển với ưu thế của ĐNN đã từng là tâm điểm của nền văn minh nhân loại từ 6.000 năm về trước. Đó là do các hệ ĐNN này phong phú về tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho phát triển và tồn tại của con người. Kỹ thuật tiên tiến đôi khi giúp con người “chế ngự” và kiểm soát thiên nhiên nhưng những thảm họa môi trường gần đây như lũ lụt, lở đất, gió bão mà đa phần có nguồn gốc sâu xa từ sử dụng đất và nước không bền vững lại cho thấy một bức tranh khác. Trên thực tế là ta vẫn phải phụ thuộc vào những HST với đầy đủ chức năng của chúng như kiểm soát lũ lụt; nạp nước ngầm; ổn định bờ biển và chống gió bão; tồn trữ trầm tích và chất dinh dưỡng và xuất khẩu chất dinh dưỡng; làm sạch nước; lưu giữ đa dạng sinh học; sản phẩm ĐNN; giá trị văn hóa;  giải trí và du lịch và giảm nhẹ và thích ứng biến đổi khí hậu (Ramsar 2011)

Đối với nước ta – Tuy có sai khác về khí hậu giữa phía Nam và phía Bắc nhưng toàn bộ nước ta vẫn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa như nhiều tài liệu đã đề cập. Với lượng mưa trung bình hàng năm từ 2000 – 3000mm, lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi, với một hệ thống sông ngòi chằng chịt, các đầm phá nước lợ và nước mặn dọc theo bờ biển dài 3200 km. Các quần đảo ngoài khơi, hệ thống hồ đầm tự nhiên và nhân tạo cũng rất phong phú. Hai châu thổ của hai con sông lớn của nước ta là sông Cửu Long và sông Hồng là những vùng ngập nước mưa hàng năm và là nơi sản xuất lúa gạo và thực phẩm chính của nước ta. Do đó ĐNN của nước ta là vô cùng phong phú và chiếm phần lớn đất canh tác nông, lâm nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước, nuôi trồng thủy hải sản góp phần quan trọng vào phồn vinh và xóa đói giảm nghèo của dân tộc ta.

Diện tích ĐNN của nước ta khoảng 10 triệu ha chiếm gần một phần ba diện tích đất liền đó là chưa kể những đảo nhỏ xa bờ và vùng nước biển ven bờ có độ sâu không quá 6m khi triều thấp.

Ngoài vai trò trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản, ĐNN của nước ta còn đóng vai  trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc sạch nước, điều hòa dòng chảy, điều hòa khí hậu địa phương, tạo chất dinh dưỡng, nạp nước ngầm và cung cấp nước, chống gió bão và xói lở bờ biển, tồn trữ C và làm đa dạng cảnh quan, là nơi nghỉ chân và trú đông của chim di cư trong đó có nhiều loài quý hiếm, do đó là nơi giải trí, du lịch rất có giá trị như đã đề cập. Vì vậy về lâu dài ĐNN sẽ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội nhất là ứng phó với biến đổi khí hậu, xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh dân số của nước vẫn đang tăng ở mức độ cao.

Những áp lực này đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại của ĐNN và đa dạng sinh học của chúng. Do đó thách thức hiện tại và tương lai của ta giống với 40 năm về trước trong quá trình phát triển của công ước Ramsar.

Vì lợi nhuận ngắn hạn của các bộ phận tư nhân, nhận thức về vai trò của ĐNN, quản lý sử dụng ĐNN còn nhiều bất cập mà ĐNN ở nhiều nơi trên thế giới cũng như trong nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp hay bị  hủy hoại. Trên thực tế có những dấu hiệu cho thấy những dịch vụ mà ĐNN cung cấp cho con người đang bị tổn thất ở mức độ cao hơn là những loại hình HST khác (Ramsar 2011).

Cuốn sách Đất ngập nước – nguyên lý và sử dụng bền vững của chúng tôi hy vọng sẽ giúp bạn đọc có được những hiểu biết cơ bản về đất ngập nước nói chung và các dịch vụ mà chúng mang lại cũng như bảo tồn và sử dụng khôn khéo đất ngập nước nói riêng. Cuốn sách được chia làm 2 tập và in thành hai tập riêng. Tập I nói về những nguyên lý chung của đất ngập nước. Tâp II nói về sử dụng bền vững hay sử dụng khôn khéo đất ngập nước. Xin hân hạnh giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Do cuốn sách này xuất bản lần đầu tiên nên không tránh khỏi những thiếu sót mong độc giả góp ý và thông cảm. Ngoài ra số thứ tự của một số các bảng, biểu và hình của một số phần trong cuốn sách không được liên tục là do trong quá trình xử lý tài liệu tham khảo có những phần trong tài liệu tham khảo không được sử dụng. Cũng như vậy đối với phần tài liệu tham khảo, chúng tôi cũng không chỉnh sửa mà muốn để cho bạn đọc có thể có nhiều tài liệu nếu muốn sử dụng. Nhưng nếu chỉnh lại cho đúng thứ tự và nội dung thì rất phức tạp nên chúng tôi không thể thực hiện mong Quý độc giả thông cảm và thứ lỗi.

Hà Nội, Ngày 02 tháng 02 năm 2012

                                                                                                                                                                                                           Các tác giả

Advertisements

Bình luận đã được đóng.